|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS- ST Ngày: 15 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Vũ Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Văn Mão - cán bộ hưu trí
- Bà Đàm Thị Hà - nguyên Phó bí thư thành đoàn thành phố Ninh Bình
- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Văn P sinh ngày 28/01/2007 tại Ninh Bình; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn B và bà Nguyễn Thị B1; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/11/2023 cho đến nay, (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo: ông Vũ Văn B sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị B1 sinh năm 1980; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: ông Phạm Duy H và bà Phạm Thị M -Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, (tại phiên tòa có mặt bà Pham Thị M).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Quang T sinh ngày 20/7/2007; địa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Quang T: ông Nguyễn Văn T1 sinh năm 1973; địa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Trần H1 sinh ngày 13/3/2007; địa chỉ: số nhà E, đường N, phố C, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Trần H1: bà Hoàng Thị M1 sinh năm 1984; địa chỉ: số nhà E, đường N, phố C, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Lê Hải Nguyên sinh ngày 01/12/2006; địa chỉ: thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Lê Hải N: ông Lê Đăng S, sinh năm 1962; địa chỉ: thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Đỗ Hồng S1 sinh ngày 31/10/2005 tại Ninh Bình. địa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Nguyễn Đức M2, sinh ngày 05/5/2007; địa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Đức M2: ông Nguyễn Văn B2, sinh năm 1982; đa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Dương Phúc T2 sinh ngày 21/4/2006; địa chỉ: phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Dương Phúc T2: bà Dương Thị Thu H2, sinh năm 1974; địa chỉ: phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Phạm Khánh H3 sinh ngày 23/8/2007; địa chỉ: số nhà A, ngõ F, đường N, phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Phạm Khánh H3: ông Phạm Ngọc T3 sinh năm 1971; địa chỉ: Số nhà A, ngõ F, đường N, phố T, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Nguyễn Đức M2, sinh ngày 20/12/2007; địa chỉ: số nhà D, đường N, phố B, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Đức M2: bà Nguyễn Thị H4 sinh năm 1981; địa chỉ: số nhà D, đường N, phố B, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Phạm Hùng T4 sinh ngày 22/9/2007; địa chỉ: số nhà B, ngõ C, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Phạm Hùng T4: ông Phạm Văn T5 sinh năm 1976; địa chỉ: số nhà B, ngõ C, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Nông Lê Long sinh ngày 02/10/2008; địa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Nông Lê L: bà Lê Thị Hồng N1, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Tạ Tuấn A sinh ngày 03/5/2008; địa chỉ: thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Tạ Tuấn A: bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Đinh Ngọc Bàn H5 sinh ngày 19/9/2007; địa chỉ: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Đinh Ngọc Bàn H5: bà Bàn Thị S2 sinh năm 1982; địa chỉ: thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Tạ Đức D sinh ngày 30/9/2006; địa chỉ: thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Tạ Đức D: bà Tạ Thị L1; địa chỉ: thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Điền Đức M3 sinh ngày 16/10/2006; địa chỉ: thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Điền Đức M3: ông Điền Quang D1, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
- Nguyễn Kiến Q sinh năm 1989; địa chỉ: phố Đ, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 16/9/2023, Phạm Hùng T4 (sinh ngày 22/9/2007 trú tại số nhà B, ngõ C, đường N, phố P, phường N, thành phố N), Trần H1 (sinh ngày 13/3/2007 trú tại số nhà E, đường N, phố C, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình) và Nguyễn Đức M2 (sinh ngày 20/12/2007 trú tại số nhà D, đường N, phố B, phường B, thành phố N) ngồi chơi nói chuyện với nhau. Quá trình nói chuyện T4 nói về việc bị người khác đánh và rủ H1, M2 đi tìm nhóm người đã đánh T4 để đánh trả thù thì cả hai đồng ý. Đến tối ngày 17/9/2023, Nguyễn Đức M2 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen chở T4 đến quán B4 thuộc phường N, thành phố N thì gặp Trần H1, Phạm Khánh H3 (sinh ngày 23/8/2007 trú tại số nhà A, ngõ F, đường N, phố T, phường B, thành phố N), Dương Phúc T2 (sinh ngày 21/4/2006 trú tại phố Đ, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình) và Tạ Tuấn A (sinh ngày 03/5/2008 trú tại thôn V, xã N, thành phố N). Tại đây Nguyễn Đức M2 nói với H1, H3, T2 và Tuấn A đi trả thù nhóm người hôm trước đánh T4 thì cả nhóm đồng ý. Tuấn A nhắn tin rủ Nguyễn Quang T (sinh ngày 20/7/2007 trú tại thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình) đi đánh nhau và hẹn T khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày gặp nhau ở gầm cầu Vượt vào G mới thuộc phường N, thành phố N, T đồng ý. Sau đó Nguyễn Đức M2 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen chở T4; H1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng (không biển kiểm soát) chở T2; H3 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu đen (không biển kiểm soát) chở Tuấn A đi đến khu vực nhà hoang gần ngã tư Siêu thị G thuộc địa phận xã N, thành phố N để lấy 03 con dao phóng lợn đều được làm bằng ống tuýp sắt có chiều dài khoảng 2,5m, một đầu gắn lưỡi dao bầu bằng kim loại dài khoảng 17cm do Tuấn A và Nguyễn Đức M2 cất giấu từ trước. Sau đó Tuấn A, T4 và T2 mỗi người cầm 01 con dao phóng lợn rồi tất cả đi đến khu vực G mới.
Đối với Nguyễn Quang T, sau khi nhận được tin nhắn của Tuấn A, T đã nhắn tin và gọi điện rủ Lê Hải N (sinh ngày 01/12/2006 trú tại thôn H, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình), Đỗ Hồng S1 (sinh ngày 31/10/2005 trú tại thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình) và Vũ Văn P đi đánh nhau thì S1, N, P đồng ý. T hẹn N gặp nhau ở khu vực G mới thành phố N. P rủ Nguyễn Đức M2 sinh ngày 05/5/2007 trú tại thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình (sau đây gọi là M2 – Hoa Lư để phân biệt với Nguyễn Đức M2 ở thành phố N) đi đánh nhau thì M2 đồng ý. Khi T, S1, P, M2 đi ra khu vực cổng làng thôn H, xã N, huyện H thì gặp Nông Lê L (sinh ngày 22/10/2008 trú tại thôn H, xã N, huyện H) đi đến, T rủ L đi đánh nhau thì L đồng ý. Sau đó S1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen (không biển kiểm soát) chở T; P điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng (không biển kiểm soát) chở M2 và L đi đến khu vực G mới. Khi đi đến khu vực đường N, cách chân cầu vượt T khoảng 50m thì gặp nhóm của Tuấn A và N một mình đi xe mô tô Honda Wave màu đen (không biển kiểm soát) đang đứng chờ. Khi hai nhóm gặp nhau thì Tuấn A đưa con dao phóng lợn cho T, còn T2 đưa con dao phóng lợn cho Tuấn A. Sau đó M2 (thành phố N) điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen (không biển kiểm soát) chở T4 ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn; S1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen (không biển kiểm soát) chở T ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn; H3 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu đen (không biển kiểm soát) chở Tuấn A ngồi sau cầm 01 dao phóng lợn; H1 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng (không biển kiểm soát) chở T2; P điều khiển xe mô tô Honda Wave màu trắng (không biển kiểm soát) chở M2 (H); N điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen (không biển kiểm soát) chở L. Tất cả đi đến khu vực cửa nhà hàng C thuộc phường T, thành phố N do anh Nguyễn Kiến Q (sinh năm 1989 trú tại phố Đ, phường B, thành phố N) làm chủ thì thấy có các két vỏ chai bia bằng thủy tinh để bên ngoài nên M2 (H) và T2 xuống xe mỗi người lấy 01 két vỏ chai bia (loại vỏ chai S và T7), M2 (H) đưa cho T 02 vỏ chai, L 03 vỏ chai và Tuấn A 01 vỏ chai, còn lại M2 (H) ôm lên xe, T2 ôm 01 két vỏ chai lên xe. Cả nhóm điều khiển xe mô tô đi theo hướng đường N lên Trung tâm thành phố N, đi theo các tuyến đường L, đường L, đường Đ ra khu vực Quảng trường Đinh Tiên H6 rồi vòng quay lại đường T đi hướng đi Thanh Hoá mục đích tìm nhóm người đã mâu thuẫn để đánh nhau. Trên đường đi, 06 xe mô tô do các đối tượng điều khiển đi với tốc độ cao, lạng lách, bấm còi inh ỏi gây mất trật tự trị an và gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân.
Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 18/9/2023, khi đi đến Siêu thị Đ tại khu vực cầu L thuộc phường P, thành phố N thì cả nhóm nhìn thấy anh Đinh Ngọc Bàn H5 (sinh ngày 19/9/2007 trú tại thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình) điều khiển xe mô tô đi một mình; anh Tạ Đức D (sinh ngày 30/9/2006 trú tại thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình) điều khiển xe mô tô chở anh Điền Đức M3 (sinh ngày 15/10/2006 trú tại thôn Đ, xã N, thành phố N) đang đi theo hướng từ cầu L về phía cầu vượt T. Lúc này M2 (thành phố N) hò lên “Lùa bọn nó kia kìa” thì cả nhóm đuổi theo hai xe của anh H5 và anh D lên trên cầu vượt T. T2 cầm 02 vỏ chai bia ném về phía xe mô tô của anh H5, D, M3 nhưng không trúng. S1 điều khiển xe mô tô chở T đi vượt qua xe của anh Đinh Ngọc B3 H5, T ngồi sau cầm dao phóng lợn chém 01 phát về phía chân trái của anh Đinh Ngọc B3 H5 nhưng không trúng, anh H5 dừng xe lại. Sau đó, cả nhóm tiếp tục đi lên chặn đầu xe của anh D và anh M3. T ném 02 vỏ chai bia, Vũ Văn P điều khiển xe mô tô chở M2 (H) ngồi sau ném 04 vỏ chai, Tuấn A ném 01 vỏ chai, L ném 03 vỏ chai về phía xe anh D và anh M3. M2 (thành phố N) điều khiển xe mô tô chở T4 vượt lên áp sát xe anh Đinh Ngọc B3 H5, T4 cầm dao phóng lợn chém 01 phát trượt qua phần lưng của anh Đinh Ngọc B3 H5; T4 nhảy xuống xe cầm dao phóng lợn chém 01 phát trúng vào cổ tay trái của anh H5. Sau đó, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô theo đường Nguyễn Công T8 xuống huyện Y, tỉnh Ninh Bình để tiếp tục đi tìm đánh nhóm người đã mâu thuẫn với T4. Trên đường đi, T2 lấy các vỏ chai bia trong két bia mình đang cầm chia cho mọi người trong nhóm, còn vỏ két bia thì vứt ở ven đường. Khi đi đến khu vực ngã ba Thôn G, trước cây xăng xã K, huyện Y, cả nhóm nhìn thấy 03 nam thanh niên đi trên 01 xe mô tô hướng từ huyện Y đi thành phố N đi qua và có tiếng chửi nhóm của mình nên tất cả vòng quay lại đuổi theo mục đích để đánh nhưng không đuổi được. Sau đó, cả nhóm tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về thành phố N. Khi đi đến khu vực ngã ba T thuộc phường Đ, thành phố N thì nhìn thấy 02 nam thanh niên đang đi trên 02 xe mô tô hướng vào đường L thuộc phường T, thành phố N. M2 (thành phố N) có hò “Lùa theo”, H5 cũng hò “Kia kìa”, thì cả nhóm đuổi theo 02 nam thanh niên. Quá trình đuổi H5 cầm 02 vỏ chai bia ném về phía 02 nam thanh niên này nhưng không trúng. Khi đuổi đến khu vực quán K tại số I đường L, phường T, thành phố N cả nhóm quay lại, tiếp tục điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng, vượt đèn đỏ trên các tuyến đường của thành phố N mục đích tìm người để đánh nhưng không thấy ai. Khoảng 02 giờ ngày 18/9/2023, khi đến khu vực Siêu thị Đ gần cầu L, T đưa dao phóng lợn cho T4, rồi T4 và Tuấn A đưa dao phóng lợn cho M2 (thành phố N). Sau đó, nhóm T đi về tới hồ L thuộc phường N, thành phố N thì M2 (H) vứt vỏ két bia xuống ven đường rồi cả nhóm giải tán, đi về nhà. Khi đi về tới phường N thì M2 (thành phố N) vứt 03 con dao phóng lợn vào bụi cỏ ven đường rồi đi về nhà.
Hậu quả: anh Đinh Ngọc Bàn H5 bị thương vết thương hở cổ tay, bàn tay, đứt gân duỗi ngón 1 bàn tay trái được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh N.
Quá trình điều tra đã thu giữ 01 con dao phóng lợn dài 2,72m được làm bằng ống tuýp sắt, một đầu gắn lưỡi dao bầu dài 22cm; 01 con dao phóng lợn dài 2,57m được làm bằng ống tuýp sắt, một đầu gắn lưỡi dao bầu dài 17cm; 01 con dao phóng lợn dài 2,37m được làm bằng ống tuýp sắt, một đầu gắn lưỡi dao bầu dài 17cm và 01 xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 35B3-036.22 của Nguyễn Đức M2 (thành phố N); Thu giữ 01 chiếc xe mô tô Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 35B2-875.08 của Phạm Khánh H3; Thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 35C1-016.98 của Lê Hải N; Thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 35H1-012.24 của anh Đỗ Đại T9 (là bố của Đỗ Hồng S1); Thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 90B3-308.98 của chị Dương Thị Thu H2 (là mẹ của Dương Phúc T2).
Quá trình điều tra, Nguyễn Quang T, Lê Hải N, Trần H1, Đỗ Hồng S1, Nguyễn Đức M2, Dương Phúc T2 và Phạm Khánh H3 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 16/5/2024, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình đã xét xử T, N, H1, S1, M2 (H), T2 và H3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Vũ Văn P là người được hưởng trợ cấp xã hội dạng khuyết tật thần kinh tâm thần, mức độ khuyết tật nặng (theo Quyết định về việc trợ cấp xã hội hàng tháng số 767/QĐ-UBND ngày 18/5/2023 của UBND huyện H, tỉnh Ninh Bình) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với P. Do chưa có kết luận giám định nên ngày 05/3/2024 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với bị can Vũ Văn P để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật. Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 115/KLGĐ ngày 06/5/2024 của V Bộ Y kết luận: “Trước, trong khi xảy ra sự việc và tại thời điểm giám định bị can Vũ Văn P bị động kinh toàn thể cơn lớn kèm theo bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6 + F70. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Quá trình điều tra, Vũ Văn P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cùng đồng phạm.
Đối với các vật chứng, tài sản mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N thu giữ và các vấn đề khác có liên quan như hành vi của Phạm Hùng T4, Nguyễn Đức M2 (thành phố N), Tạ Tuấn A, Nông Lê L; yêu cầu đề nghị của anh Tạ Đức D, anh Điền Đức M3, anh Nguyễn Kiến Q đều đã được giải quyết trong vụ án trước.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, gia đình bị can Vũ Văn P và các đối tượng đã bồi thường cho anh Đinh Ngọc B3 H1 tổng số tiền là 23.000.000 đồng. Anh H1 đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị can.
Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKSNDTPNB ngày 08/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Vũ Văn P về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và các Điều 65, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn P từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về án phí: bị cáo Vũ Văn P là người bị khuyết tật nặng nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.
Người bào chữa cho bị cáo xác định: việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đối với bị cáo Vũ Văn P là có căn cứ, đúng pháp luật. Ngoài ra, người bào chữa còn phân tích về tính chất mức độ của hành vi phạm tội; về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và các Điều 65, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Vũ Văn B và bà Nguyễn Thị B1 không có ý kiến gì về lời khai của bị cáo; ông bà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn P tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Với các chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 17/9/2023 đến khoảng 02 giờ ngày 18/9/2023, do có mâu thuẫn từ trước với nhóm người đã đánh Phạm Hùng T4 nên nhóm của Vũ Văn P đã có hành vi điều khiển xe mô tô đi trên các tuyến đường ở thành phố N và huyện Y, tỉnh Ninh Bình với tốc độ cao, lạng lách, bấm còi inh ỏi, cầm theo dao phóng lợn và vỏ chai bia làm hung khí đuổi đánh nhau. Vũ Văn P điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức M2 (H) ngồi sau ném 04 vỏ chai bia trúng vào xe anh Tạ Đức D và anh Điền Đức M3. Hành vi của Vũ Văn P và các đối tượng gây hoang mang, lo sợ cho người dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.
Bị cáo Vũ Văn P mặc dù có Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 115/KLGĐ ngày 06/5/2024 của V Bộ Y kết luận: “Trước, trong khi xảy ra sự việc và tại thời điểm giám định bị cáo Vũ Văn P bị động kinh toàn thể cơn lớn kèm theo bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6 + F70. Tại các thời điểm trên đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi” nhưng theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện.
Hành vi nêu trên của Vũ Văn P đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, thuộc trường hợp “Dùng hung khí”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cần thiết.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
[3.1] Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội là người khuyết tật nặng”, “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, p, q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là người có quyền lợi liên quan có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và bị cáo có ông ngoại, ông nội là người có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, hạng nhì.
[3.2] Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
[4] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Bị cáo có nhân thân tốt, có chỗ ở ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đủ các điều kiện được quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, nên cho bị cáo được hưởng án treo, với một thời gian thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với các vật chứng, tài sản mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N thu giữ và các vấn đề khác có liên quan như hành vi của Phạm Hùng T4, Nguyễn Đức M2 (thành phốNinh B2), Tạ Tuấn A, Nông Lê L; yêu cầu đề nghị của anh Tạ Đức D, anh Điền Đức M3, anh Nguyễn Kiến Q đều đã được giải quyết trong vụ án trước.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, gia đình bị can Vũ Văn P và các đối tượng đã bồi thường cho anh Đinh Ngọc B3 H1 tổng số tiền là 23.000.000 đồng. Anh H1 đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, p, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và các Điều 65, 90, 91, 101 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố: bị cáo Vũ Văn P phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Vũ Văn P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/7/2024).
Bị cáo Vũ Văn P phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Giao bị cáo Vũ Văn P cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giámsát, giáo dục thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 68 Luật Thi hành ánhình sự. Trong thời gian thử thách, nếu Vũ Văn P lại cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Vũ Văn P chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Vũ Văn P phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Văn P.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/7/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hiền |
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự).
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa |
|
Bùi Văn Mão Đàm Thị Hà |
Vũ Thị H7 |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Phúc phạm tội gây rối trật tự công cộng
