Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN,

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày 15 – 5 – 2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Sim.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 67/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hụi” giữa:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm: 1963 (Có mặt).

Nơi cư trú: Khóm 8, thị trấn Cái Đôi V, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Phạm Văn Kh, sinh năm: 1968 (Có mặt).

Bà Lê Thị D, sinh năm: 1965 (Vắng mặt).

Cùng nơi cư trú: Khóm 8, thị trấn Cái Đôi V, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/3/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày:

Vào năm 2019 bà có chơi hụi do ông Kh, bà D làm chủ hụi, hụi khui vào thời gian nào và khi nào mãn hụi bà không nhớ rõ, loại hụi 3.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, gồm 39 chưng. Bà tham gia đến kỳ 35 thì hốt hụi. Sau khi hốt hụi và đã trừ tiền huê hồng hụi thì ông Kh, bà D phải chung cho bà số tiền là 85.000.000 đồng nhưng đến thời gian giao hụi như thỏa thuận ông Kh, bà D không giao hụi cho bà nên bà có đòi nhiều lần và được ông Kh có trả cho bà 11.000.000 đồng, còn nợ bà số tiền 74.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D thanh toán cho bà số tiền nợ hụi còn thiếu tổng cộng là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng). Ngoài ra bà không yêu cầu gì thêm.

Quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa ông Phạm Văn Kh trình bày: Ông thừa nhận trước đây vợ chồng ông, bà có làm chủ hụi và hiện còn nợ bà B số tiền đúng như bà B trình bày.

Nay bà B yêu cầu vợ chồng ông, bà thanh toán cho bà B số tiền hụi là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng) ông đồng ý. Còn bà D vợ ông hiện đi làm ăn xa nên không đến Tòa án tham gia theo giấy triệu tập của Tòa được.

Đối với bà Lê Thị D trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định phân công thẩm phán, thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhiều lần nhưng bà D vẫn vắng mặt không rõ lý do. Đồng thời, không gửi văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp hụi, ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D là bị đơn, có nơi cư trú tại khóm 8, thị trấn Cái Đôi V huyện Phú T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bà Lê Thị D đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp của vụ án: Nguyên đơn xác định vợ chồng ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D còn nợ nguyên đơn số tiền 74.000.000 đồng, đây là tổng số tiền của dây hụi do các bị đơn làm chủ. Bị đơn ông Phạm Văn Kh thừa nhận vợ chồng ông còn nợ nguyên đơn số tiền đúng như nguyên đơn trình bày nên đây là sự thật nên nguyên đơn không cần phải chứng minh.

Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy: Việc thỏa thuận tổ chức chơi hụi giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Khi ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D tổ chức chơi hụi, mời các hụi viên cùng nhau góp vốn. Khi ngưng hụi các bên đã kết nợ có làm biên nhận nợ do ông Khởi tự ghi và ký tên xác nhận ngày 02/02/2022. Việc các đương sự giao dịch hụi thực tế có xảy ra, quá trình chơi hụi ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D là người đứng ra tổ chức chơi hụi (chủ hụi), khi không còn khả năng thanh toán tiền cho các hụi viên dẫn đến tuyên bố bể hụi, dừng tất cả các hoạt động liên quan đến hụi nhưng ông Kh không có khả năng thanh toán cho các hụi viên, còn bà D không cùng với các hụi viên kết nợ, tìm cách giải quyết số tiền còn nợ cho các hụi viên mà lại bỏ địa phương đi đến nay không về địa phương. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án bà D không đến Tòa cũng không gửi ý kiến để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, không cung cấp chứng cứ chứng minh. Chính vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn và bị đơn ông Phạm Văn Kh cung cấp để giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp.

Với phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc các bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền hụi là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng) là phù hợp.

[4] Trong số tiền hụi nguyên đơn yêu cầu có phần lãi hụi. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn không đặt ra yêu cầu điều chỉnh. Tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Văn Kh trình bày có lãi hụi nhưng ông không cung cấp chứng cứ chứng minh và không làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, không đóng án phí, nguyên đơn thì không nhớ chính xác số tiền bỏ hụi của từng lần bỏ thăm của các hụi viên khác là bao nhiêu nên Hội đồng xét xử không xem xét việc điều chỉnh.

[5] Về thời gian và phương thức thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng ông Kh, bà D thanh toán một lần tiền hụi còn thiếu. Ông Kh yêu cầu được thanh toán hàng tháng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án này.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nguyên đơn không phải chịu, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 15, Điều 18, Điều 21, khoản 2 Điều 22, Điều 23, Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị B.

Buộc ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D thanh toán cho bà Lê Thị B số tiền hụi là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng)

Kể từ ngày bà Lê Thị B có đơn yêu cầu thi hành án, ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D phải chịu số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm nghìn đồng, chưa nộp). Bà Lê Thị B được miễn dự nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra việc hoàn lại.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà B, ông Kh có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà D vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thúy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 186, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 15, Điều 18, Điều 21, khoản 2 Điều 22, Điều 23, Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 12, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Lê Thị B. Buộc ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D thanh toán cho bà Lê Thị B số tiền hụi là 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng) Kể từ ngày bà Lê Thị B có đơn yêu cầu thi hành án, ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành. 4 Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn Kh, bà Lê Thị D phải chịu số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu, bảy trăm nghìn đồng, chưa nộp). Bà Lê Thị B được miễn dự nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra việc hoàn lại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger