|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày: 14/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Bùi Thái Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Việt
Bà Đỗ Thị Lài
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 90/2024/QĐ-HPT ngày 04 tháng 7 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1989 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Quang N (sinh năm 1969) và bà Võ Thị Phương T (sinh năm 1968); đã ly hôn chồng là Võ Chí T1 (sinh năm 1982), chung sống như vợ chồng với ông Hoàng Duy N1 (sinh năm 1987); có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 06/01/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa:
Luật sư Lê Biên P (bào chữa chỉ định) + Luật sư Nguyễn Văn N2 – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Chí B, sinh năm 1996. Địa chỉ: khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bà Phạm Thị Trang N3, sinh năm 1973. Địa chỉ: 1 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa lợi liên quan:
- Bà Lê Thị Thủy N4, sinh năm 1988. Địa chỉ: H khu đô thị C, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- Ông Hoàng Duy N1, sinh năm 1987. Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của Nguyễn Thị Phương A:
- Vụ 1: Lừa đảo chiếm đoạt 570 triệu đồng tiền chạy án của anh Nguyễn Chí B:
Nguyễn Thị Phương A và anh Nguyễn Chí B quen biết nhau thông qua việc làm ăn, môi giới mua bán nhà đất. Khoảng giữa tháng 4/2023, anh B kể cho Phương A nghe việc cho Võ Thị D là người quen vay 1,7 tỷ đồng nhưng sau đó D đã bị Công an tỉnh B khởi tố, bắt tạm giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện nay, B đang nợ tiền của nhiều người khác mà không có cách nào đòi được tiền của D để trả nợ.
Mặc dù bản thân không biết Võ Thị D, không biết cơ quan hay cá nhân nào có thể giải quyết cho D được tại ngoại nhưng Anh đã nói dối với anh B rằng mình có nhiều quan hệ có thể xin cho D được tại ngoại ngay để D trả nợ cho B và yêu cầu B đưa tiền để nhờ người giúp. Tin tưởng là thật nên từ ngày 04/5/3023 đến ngày 08/5/2023, anh B đã chuyển khoản ngân hàng 05 lần (mỗi lần từ 05 triệu đồng đến 380 triệu đồng) với tổng số tiền 565 triệu đồng vào tài khoản số 19035592684011 của Anh tại ngân hàng T3 và giao cho Anh 05 triệu đồng tiền mặt tại quán C ở gần siêu thị G ở thành phố B mà không hay biết thực chất đã bị Phương A lừa dối chiếm đoạt, tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi đưa tiền, B không thấy D được tại ngoại nên yêu cầu Anh trả lại tiền thì Anh tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối nhờ Lưu Ngọc T2 (sinh năm 1988, trú tại Tổ I, ấp T, xã L, thành phố B) đóng giả là “Kiểm sát viên tên T2” gọi điện thoại cho B nói hồ sơ đã được xử lý nhưng cần đưa thêm tiền để giải quyết nhanh hơn. Nghi ngờ Anh lừa đảo chiếm đoạt tiền của mình nên anh B có đơn tố giác đối với Anh trước pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Thị Phương A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự để điều tra theo quy định.
Ngày 22/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh đã kết thúc điều tra, ra Bản Kết luận điều tra số 52/KLĐT-CSHS đề nghị truy tố Phương A theo quy định. Ngày 06/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ban hành Cáo trạng số 01/CT-VKSBRVT-P2 truy tố ra đối với Nguyễn Thị Phương A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân tỉnh để thụ lý xét xử.
- Vụ 2: Lừa đảo chiếm đoạt 270 triệu đồng tiền chạy giải quyết nguồn tin tội phạm của chị Phạm Thị Trang N3:
Trong thời gian Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thụ lý xét xử đối với vụ án Nguyễn Thị Phương A lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh B (Vụ 1) thì Anh được tại ngoại do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Để có tiền tiêu xài, A tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tiền chạy giải quyết hồ sơ nguồn tin tội phạm của chị N3.
Cụ thể:
Tháng 12/2023, chị N3 biết Anh qua giới thiệu của chị Lê Thị Thủy N4. Quá trình giao tiếp, Anh gian dối giới thiệu bản thân là con, cháu của lãnh đạo cao cấp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm cho chị N3 tưởng thật nên nhờ Anh tác động các cơ quan pháp luật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết đơn của chị N3 tố giác bà Nguyễn Thị Thanh X để lấy lại 5,5 tỷ đồng chị N3 đặt cọc mua đất năm 2022. Ngày 28/12/2023, chị N3 đưa cho chị N4 200 triệu đồng nhờ giao cho Anh để chạy giải quyết hồ sơ nguồn tin tại một quán cà phê thuộc phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (không nhớ chính xác tên, địa chỉ). Sau đó, chị N3 hỏi kết quả thì Anh nói dối hồ sơ đang giải quyết nhưng chị N3 cần đưa thêm tiền để xử lý nhanh hơn. Ngày 06/01/2024, chị N3 trình báo sự việc đến Công an rồi cùng chị N4 đưa 70 triệu đồng cho Anh tại quán C ở B Đ, phường P, thành phố B. Công an bắt quả tang Anh cùng tang vật là 70 triệu đồng.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh B đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự để điều tra. Quá trình điều tra, Anh khai nhận hành vi như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng về bối cảnh, diễn biến sự việc và số tiền chiếm đoạt; 200 triệu đồng chiếm đoạt được, Anh khai đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 25/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh đã kết thúc điều tra, ra Bản Kết luận điều tra số 55/KLĐT-CSHS đề nghị truy tố Nguyễn Thị Phương A theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Thực hiện nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, ngày 07/5/2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ra Quyết định số 02/VKS-P2 nhập các vụ án hình sự nêu trên (Vụ 1 và Vụ 2) thành một vụ án chung để truy tố, xét xử theo quy định.
1.2. Phần dân sự trong vụ án:
- Đối với Vụ 1: Quá trình điều tra, Anh trả cho anh B 570 triệu đồng tiền chiếm đoạt và tự nguyện đưa thêm 90 triệu đồng để bồi thường thiệt hại. Anh B sau khi nhận 660 triệu đồng đã có đơn xin giảm nhẹ cho A.
- Đối với Vụ 2: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh đã thu giữ 270 triệu đồng (Bao gồm: Bắt quả tang 70 triệu đồng và gia đình Phương A đã tự nguyện giao nộp, khắc phục cho bị cáo 200 triệu đồng). Ngày 27/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định số 252/QĐ-CSHS trả lại cho bà N3 270 triệu đồng.
1.3. Các vấn đề khác có liên quan:
1.3.1. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương A: Quá trình điều tra, do nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự đối với bị cáo A nên Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 958/KLGÐ ngày 20/3/2024 của Trung tâm giám định pháp y tâm thần khu vực Thành phố H xác định:
“- Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Chí B và chị Phạm Thị Trang N3 từ 01/4/2023 đến nay, bị cáo Nguyễn Thị Phương A có bị bệnh tâm thần. Loại bệnh: Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định/Nhổ tóc (F60.3/F63.3-ICD10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Chí B và chị Phạm Thị Trang N3 từ 01/4/2023 đến nay, bị cáo Nguyễn Thị Phương A hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Như vậy, trước, trong, sau khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của các bị hại B, N3 và đến thời điểm hiện tại; mặc dù bị cáo Nguyễn Thị Phương A bị hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.
1.3.2. Đối với Lưu Ngọc T2 được bị cáo Phương A nhờ đóng giả “Kiểm sát viên T2” gọi điện thoại cho anh B mà không biết việc Phương A thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của B, không được Phương A trả tiền hoặc hứa hẹn trả tiền. Do đó, với tài liệu hiện có không đủ căn cứ xử lý T2 về hành vi giúp sức cho Phương A theo quy định.
1.3.3. Đối với các ông/bà Nguyễn Chí B, Lê Thị Thủy N4 và Phạm Thị Trang N3: Kết quả điều tra xác định B có hành vi dùng 570 triệu đồng để chạy án, N3 và N4 có hành vi dùng 270 triệu đồng để chạy giải quyết hồ sơ nguồn tin tội phạm là có dấu hiệu của tội “Đưa hối lộ”. Tuy nhiên, xét B, N4, N3 đã chủ động tố cáo trước khi bị phát giác, quá trình điều tra khai báo toàn bộ nội dung, diễn biến sự việc nên Cơ quan điều tra không khởi tố, xử lý hình sự đối với B, N3, N4 là phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự.
2. Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS-P2 ngày 08 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thị Phương A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương A 09 (Chín) - 10 (M) năm tù. Trách nhiệm dân sự: đã xong. Xử lý vật chứng: không.
4. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:
4.1. Luật sư Nguyễn Văn N2 bào chữa cho bị cáo như sau:
Nhất trí tội danh, Điều khoản Viện Kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương A. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các nội dung để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo:
- Ông B quen biết ông N1 là người chung sống như vợ chồng với bị cáo, giới thiệu mình làm ở ngân hàng, hứa hỗ trợ bảo lãnh bị cáo vay vốn ngân hàng, nhận của bị cáo hơn 200 triệu đồng nhưng không thực hiện như đã hứa. Khi bị cáo hỏi thì ông B thông tin đang nợ nhiều người, nêu việc cần lo cho D tại ngoại, trả nợ cho ông B thì B sẽ thanh toán cho bị cáo. Từ đó, dẫn đến sự việc như Cáo trạng đã nêu. Như vậy, vụ án 1 xảy ra từ việc bị cáo quen biết, nợ tiền qua lại với ông B, một phần lỗi của bị hại là ông B. Số tiền hai bên giao nhận chỉ ông B và bị cáo rõ. Quá trình điều tra đã chứng minh được bị cáo nhận của ông B 570 triệu đồng; ông B yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 90 triệu đồng sẽ viết đơn bãi nại. Bị cáo nghĩ là có lợi nên đã bồi thường theo yêu cầu của ông B. Nay tại phiên toà bị cáo xin nhận lại 90 triệu đồng này. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Bị hại Trang Nhung trình bày tại phiên toà rằng qua giới thiệu của chị N4, tiếp xúc với bị cáo đã bán tín bán nghi, không tin bị cáo nhưng nói thì chị N4 không nghe, nên chị N3 chứng minh cho chị N4 rõ bằng việc của mình, và bị bị cáo chiếm đoạt tiền. Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho chị N3, nên mong muốn chị N3 xem xét xin Toà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đang nuôi con nhỏ.
- Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn: đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị tạm giam nên phải nhờ bố mẹ già bệnh tật chăm sóc, chị em gái sống cùng cha mẹ không có việc làm ổn định.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng bổ sunng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về chăm con.
4.2. Luật sư Lê Biên P bào chữa cho bị cáo như sau:
Nhất trí tội danh, Điều khoản Viện Kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Phương A, và quan điểm bào chữa của Luật sư Nguyễn Văn N2. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo tác động gia đình bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại và bồi thường thêm cho bị hại; bị cáo hạn trong nhận thức và năng lực hành vi; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn; để quyết định mức hình phạt thấp nhất có thể cho bị cáo.
4.3. Bị cáo Nguyễn Thị Phương A nhất trí với quan điểm bào chữa của Luật sư, không tranh luận và bào chữa bổ sung.
4.4. Đại diện Viện Kiểm sát đối đáp:
Đề nghị Hội đồng xem xét, quyết định về áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại Nguyễn Chí B 90 triệu đồng, có sự chứng kiến của luật sư bào chữa, để bị hại có đơn xin giảm án cho bị cáo. Nay bị cáo có yêu cầu xin lại ông B số tiền này thì đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác, vì ông B không có mặt tại phiên toà.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quan điểm truy tố và các đề nghị.
4. Bị cáo Nguyễn Thị Phương A nói lời nói sau cùng, thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về chăm sóc con nhỏ, gia đình và người thân, làm công dân tốt có ích cho xã hội.
5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, người bào chữa, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Lợi dụng việc anh Nguyễn Chí B là chủ nợ nôn nóng trong việc đòi lại tiền cho con nợ Võ Thị D vay trước đó, đang bị tạm giam trong một vụ án hình sự, Nguyễn Thị Phương A dùng thủ đoạn gian dối tự nhận bản thân có nhiều mối quan hệ có thể can thiệp giải quyết cho D tại ngoại để thu xếp trả nợ cho anh B. Tin tưởng là thật nên từ ngày 04/5/3023 đến ngày 08/5/2023, anh B đã 05 lần chuyển tiền vào tài khoản số 19035592684011 của Phương A tại ngân hàng T3 tổng số 565 triệu đồng và giao 05 triệu đồng tiền mặt để chạy án, và bị bị cáo chiếm đoạt toàn bộ 570 triệu đồng tiêu xài cá nhân hết.
Trong thời gian sắp bị xét xử về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh B, thì Nguyễn Thị Phương A tiếp tục cung cấp thông tin gian dối rằng mình là con, cháu lãnh đạo cao cấp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có thể can thiệp giúp chị Phạm Thị Trang N3 trong việc giải quyết nguồn tin tội phạm để thu hồi 5,5 tỷ đồng đặt cọc đất từ năm 2022, khiến chị N3 tưởng giả là thật, đã 02 lần giao tiền theo yêu cầu của bị cáo tổng số 270 triệu đồng vào ngày 28/12/2023 và ngày 06/01/2024, để nhờ giải quyết hồ sơ giải quyết nguồn tin tội phạm, và bị bị cáo chiếm đoạt toàn bộ 270 triệu đồng để tiêu xài cá nhân.
Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị Phương A lừa dối chiếm đoạt của anh B, chị N3 là 840 triệu đồng.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thị Phương A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bất bình, hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín của lãnh đạo tỉnh. Bị cáo là người đã trưởng thành không tu chí làm ăn mà đã dùng nhiều thủ đoạn gian dối khiến người khác tưởng giả là thật, liên tiếp chiếm đoạt tài sản lớn của hai bị hại. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quy định tại các điểm b, s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét giải quyết. Tại phiên toà, bị cáo nêu ý kiến muốn xin lại ông B 90 triệu đồng trước đây bị cáo đã bồi thường thêm để được ông B viết đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, ở giai đoạn điều tra, bị cáo tự nguyện thoả thuận và thực hiện việc bồi thường cho các bị hại, có sự chứng kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo, được bị hại viết đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nếu bị cáo có yêu cầu bị hại trả lại tiền đã bồi thường thì khời kiện để được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo thủ tục tố tụng dân sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Không.
[67 Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Phương A phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương A 10 (Mười) năm tù, tính từ ngày 06/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xong, không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Không.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Thị Phương A nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2024), bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân câp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày áp dụng đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Phương A Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
