Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/6/2024

“V/v ly hôn, con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hưng

Bà Trần Thị Liên

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Dịu, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 344/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, con chung”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu N, sinh năm 1987; Địa chỉ: 3 T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Thu N trình bày:

    Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P tìm hiểu yêu thương nhau tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam vào ngày 30/10/2009.

    Sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, từ năm 2023 cho tới nay thì vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc đến nhau nữa, ông P về tại Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam sinh sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên bà N có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

    Về con chung: Bà N1 và ông P có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Gia B, sinh ngày 25/8/2015, hiện con chung đang sống cùng bà N1. Bà Nguyệt có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

    Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

  2. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung như bà N1 đã trình bày.

    Sống chung hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng nay đã không còn tình cảm, hiện vợ chồng đã sống ly thân, không còn khả năng đoàn tụ nên ông P chấp nhận ly hôn với bà N1.

    Về con chung: Ông P và bà N1 có 01 con chung là Nguyễn Văn Gia B, sinh ngày 25/8/2015, ông P chấp nhận giao con chung cho bà Võ Thị Thu N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên và tự thoả thuận cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu N được ly hôn ông Nguyễn Văn P.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Văn Gia B, sinh ngày 25/8/2015 cho bà Võ Thị Thu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Ông Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Võ Thị Thu N cư trú tại: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn P, cư trú tại Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, bà N và ông P yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết vụ việc. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “ Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

    Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp.

  2. [2] Về nội dung vụ án:

    • [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam vào ngày 30/10/2009 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

      Nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận trong quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân, mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ nên bà N và ông P đều thống nhất ly hôn.

      Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì quá trình sống chung bà N và ông P có phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân, nguyên nhân cụ thể mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm.

      Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Võ Thị Thu N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

    • [2.2] Về con chung: Bà N1, ông P có 01 con chung là Nguyễn Văn Gia B, sinh ngày 25/8/2015. Bà Nguyệt có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên, ông P chấp nhận nguyện vọng của bà N1, đều này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, vì quyền lợi, cũng như đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, cần giao con chung là cháu Nguyễn Văn Gia B cho bà Võ Thị Thu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

      Ông Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia dình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.

- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu N.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị Thu N được ly hôn ông Nguyễn Văn P.

Về con chung:

Giao con chung là cháu Nguyễn Văn Gia B cho bà Võ Thị Thu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Ông Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung:

Bà Võ Thị Thu N và ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí:

Bà Võ Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0009684 ngày 25/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT;
  • - CCTHADS TP. BMT;
  • - UBND xa Đại Thắng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS +VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

(ĐÃ KÝ)

Lê Đình Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: võ thị thu nguyệt xin ly hôn nguyễn văn phước
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger