Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 09 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Công – Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Vũ Thị Phương Hạnh – Nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ thành phố Bà Rịa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lê Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Lực - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đỗ Thị Bích T, sinh năm 1989, tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn B, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Bích M, sinh năm 1967; Chồng: Huỳnh Em R, sinh năm 1989 (đã ly hôn), có 01 người con là Huỳnh Ánh N, sinh năm 2013; Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 22/02/2024, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

  2. Họ và tên: Trần Gia T1, sinh năm 1963, tại Bình Phước; Nơi cư trú: Tổ C, khu phố N, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Gia M1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1939; Tiền án: Không, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 22/02/2024, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

  3. Họ và tên: Phạm Thị Tường V, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2006, tại Gia Lai; Nơi cư trú: Số D đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Phú Đ, sinh năm 1982 (đã chết) và bà Phạm Thị Hồng V1, sinh năm 1987; Tiền án: Không, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo T1, V: Ông Lê Minh P – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Vũ Thị Kim N1, sinh năm 1961; Địa chỉ: khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Bà Bùi Thị Kim L, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • Bà Lê Thị L1, sinh năm: 1990 Địa chỉ: Tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố E, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

(Bà N1, bà H, bà L, bà L1 và ông A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2023, Đỗ Thị Bích T mở kinh doanh đại lý vé số B1 tại địa chỉ số D L, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. T đã thuê T1 (từ tháng 11/2023) và V (từ 14/02/2024) làm nhân viên phụ giúp T với mức lương 6.000.000 đồng/tháng. Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N, miền T và miền B, Đỗ Thị Bích T, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V thực hiện hành vi ghi số đề trực tiếp thắng thua với người đặt số nhằm thu lợi bất chính. Đến khoảng 15 giờ 45 phút ngày 19/02/2024 T, T1 và V đang ghi số đề thì bị lực lượng công an phường P, thành phố B phát hiện bắt quả tang, trong đó T đang trực tiếp ghi số đề cho Vũ Thị Kim N1, sinh năm 1961. Qua làm việc đã thu giữ của T: Tiền Việt Nam 31.929.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 8 plus; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 14 Promax; thu giữ của T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X; thu giữ của V 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 14 Promax; thu giữ của N1 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen; thu giữ 16 phơi đề hình chữ nhật, màu hồng kích thước 10,6cm x 5,1cm bên trên có có in các số seri màu đen, có ghi các chữ số liên quan đến việc ghi số đề.

Hình thức ghi số đề: T, T1, V thực hiện việc ghi số đề cho khách theo kết quả đài xổ sổ miền B, miền N và miền T theo ngày xổ dưới hình thức ghi đầu đuôi, bao lô, xỉu chủ, đá xiên, đá thẳng. Đối với xổ sổ miền B, ghi đầu đuôi 1.000₫ thì trúng 72.000đ, bao lô 1.000₫ thì trúng 80.000đ, đá 1.000₫ trúng 62.000đ, xỉu chủ 1.000₫ trúng 620.000đ. Đối với các đài xổ số miền N, ghi đầu đuôi 1.000₫ trúng 72.000đ, bao lô 1.000₫ trúng 72.000đ, đá thẳng 1.000₫ trúng 62.000đ, đá xiên 1.000₫ trúng được 520.000đ, xỉu chủ 1.000₫ trúng 620.000đ. T, T1, V tiếp nhận ghi số đề cho khách bằng cách trực tiếp ghi cho khách và giao phơi đề. Ngoài ra, T còn sử dụng ứng dụng M2, sử dụng tin nhắn điện thoại di động để ghi số đề cho khách có nhu cầu. Hàng ngày khoảng 16 giờ 20 phút V, T1 sẽ giao phơi đề, số tiền thu được từ việc ghi đề đài miền N, miền T cho T; 18 giờ 20 phút giao phơi và tiền đề đài miền B cho T. Sau đó T tổng hợp các phơi đề trúng và không trúng, tổng hợp các số trúng số tiền phải chi cho người trúng vào tờ giấy A4. Khi giao nhận tiền ghi trúng đề cho người mua số đề, T hoặc nhân viên sẽ đốt huỷ các phơi đề.

Ngày 18/02/2024 T, T1, V đã ghi số đề cho một số người theo kết quả xổ số của đài T4 (đài chính), đài T4 (đài phụ), thể hiện trên 04 tờ phơi có số 216639, 216568, 216630 và 216570 với số tiền là 2.082.500 đồng. Kết quả người chơi trúng 6.120.000 đồng. Như vậy số tiền đánh bạc là 8.202.500 đồng; ghi theo kết quả xổ số đài miền B trên 04 tờ phơi số 223017, 215773, 223029 và 223362 số tiền là 1.676.000 đồng, kết quả người trúng 1.360.000 đồng. Như vậy số tiền đánh bạc là 3.036.000 đồng.

Ngày 19/02/2024 T, T1, V đã ghi số đề cho một số người theo kết quả xổ số của đài Thành phố H (đài chính) và Đồng Tháp (đài phụ), thể hiện trên 08 tờ phơi có số 215923, 215905, 215824, 215916, 215841, 215838, 224838 và 224835 với số tiền 15.082.000 đồng. Trong đó Vũ Thị Kim N1 mua số đề trên 02 tờ phơi 224838 và 224835 của T với số tiền là 618.000 đồng thì bị bắt quả tang, khi bắt quả tang chưa có kết quả xổ số.

Đối với những người tham gia đặt số với T, T1 và V Cơ quan điều tra đã xác định được gồm:

  • Vũ Thị Kim N1, sinh năm 1961 vào ngày 18/02/2024 số tiền đánh bạc là 745.000 đồng.
  • Lê Thị Bích H, sinh năm 1965 nhắn tin qua ứng dụng Messenger để đặt số đề trong 04 ngày như sau: Ngày 04/02/2024 số tiền đánh bạc là 200.000 đồng; ngày 05/02/2024 số tiền đánh bạc là 360.000 đồng; ngày 07/02/2024 số tiền đánh bạc là 200.000 đồng; ngày 12/02/2024 số tiền đánh bạc là 270.000 đồng
  • Bùi Thị Kim L; sinh năm 1996 nhắn tin qua ứng dụng Messenger mua số đề trong 03 ngày như sau: Ngày 12/02/2024 số tiền đánh bạc là 385.000 đồng; ngày 17/02/2024 số tiền đánh bạc là 385.000 đồng; ngày 19/02/2024 số tiền đánh bạc là 1.440.000 đồng.
  • Lê Thị L1; sinh năm 1990 nhắn tin qua ứng dụng Messenger mua số đề ngày 19/02/2024 các số 46 bao lô 5.000 đồng, số 46 đầu 30.000 đồng đuôi cò, số 79 bao lô 15.000 đồng, số 45 bao lô 5.000 đồng đài thành phố Hồ Chí Minh. L1 nhắn tin cho T lúc khoảng 15 giờ 50 phút ngày 19/02/2024, thời điểm T đã bị cơ quan công an bắt giữ.
  • Người sử dụng số thuê bao 0777574083 và 0908381549 bị cáo T1 lưu “Chị thịt" ngày 19/02/2024 nhắn tin ghi mua số đề với T1 các số 35, 57, 68, 33 mỗi số 10.000 đồng x 2 đài, sau đó nhắn ghi (mua) thêm các số 19, 91, 78, 38, 52, 47, 74, 63, 39, 79 mỗi số 10.000 đồng. T1 không biết “Chị thịt” là ai, ở đâu. Căn cứ kết quả trả lời của Công ty D, người đứng tên chủ thuê bao số điện thoại 0908.381.xxx là Lê Văn T2; sinh năm 1975; trú tại A N, khu phố A, phường L, thành phố B. Xác minh tại Công an phường L, tra cứu trên phần mềm quản lý dữ liệu dân cư, không có người tên Lê Văn T2 với thông tin như trên và tại địa chỉ A N thực tế không có người tên Lê Văn T2 sinh sống. Đối với số điện thoại 0777.574.xxx do Công ty TNHH D1 cung cấp người đứng tên chủ thuê bao là Lê Anh H1, sinh năm 2005; trú tại 7 đường H P, thành phố T, Hồ Chí Minh. Qua làm việc Lê Anh H1 khai nhận không đứng tên đăng ký thuê bao số điện thoại 0777.574.xxx H1 không quen biết với bị cáo T1. Bị cáo T1 cũng khai nhận không quen biết với người tên Lê Anh H1.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKSBR ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố: Bị cáo Đỗ Thị Bích T, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V phạm vào tội “Đánh bạc” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị Bích T, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V cùng phạm tội “Đánh bạc".

  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đỗ Thị Bích T từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Phạt bổ sung bị cáo T số tiền từ 20.000.000₫ đến 40.000.000₫.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, p khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Gia T1 từ 09 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 98; Điều 100; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phạm Thị Tường V từ 06 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T1 và V.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị Bích T 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 8 PLUS, màu đen, 64GB, số IMEI: 353009092011810.
  • Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Tường V 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 14 PRO MAX, màu trắng, 256GB, số IMEI: 357170851035428.
  • Trả lại cho bà Vũ Thị Kim N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, số seri: 356333057954286.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 14 PRO MAX, màu đen, 128GB, số IMEI: 353665904668657.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE X, màu đen, 256GB, số IMEI: 359412081850756.
  • Số tiền Việt Nam 31.929.000 đồng, trong đó có 11.770.000 đồng T bán số đề mà có, đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; Số tiền còn lại 20.159.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát thành phố Bà Rịa và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T1 có những tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 Bộ luật Hình sự vì bị cáo T1 là người bị khuyết tật nặng.

Đối với bị cáo V khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, nên chưa có nhận thức về xã hội nói chung và pháp luật nói riêng, bị cáo thành thật khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 98 và áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để tuyên phạt bị cáo V mức án thấp nhất để cho bị cáo có điều kiện sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội và cho gia đình.

* Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Kim N1, bà Lê Thị Bích H, bà Bùi Thị Kim L, bà Lê Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đồng thời việc vắng mặt của những người trên không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bà N1, bà H, bà L và bà L1.

[3] Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai khác của chính các bị cáo trong giai đoạn điều tra, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vì động cơ thu lợi bất chính nên trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại số nhà D L, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu các bị cáo Đỗ Thị Bích P1, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V đã có hành vi lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N và miền B để đánh bạc trái phép bằng hình thức ghi số đề thắng thua bằng tiền với nhiều người khác. Tổng số lần đánh bạc của Đỗ Thị Bích T, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V là 02 lần cụ thể như sau ngày 18/02/2024 số tiền dùng đánh bạc là 8.202.500 đồng, ngày 19/02/2024 số tiền dùng đánh bạc là 15.082.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi đánh bạc của bị cáo Đỗ Thị Bích T, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V đã đủ yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét thấy: Vì muốn kiếm tiền một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng, không quá sức lao động, các bị cáo coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội, thông qua xổ số kiến thiết để ghi số đề thắng thua bằng tiền với nhau. Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự công cộng nói chung mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Đồng thời, đây cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm khác. Do đó, cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích, cũng như, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Ngoài ra, đối với bị cáo Đỗ Thị Bích T là chủ kinh doanh đại lý vé số bị cáo đánh bạc vì mục đích lợi nhuận, nhiều lần tham gia đánh bạc, số tiền thu lợi được từ việc đánh bạc bị cáo T không chia lại cho bị cáo T1, V nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.

[5] Bị cáo Đỗ Thị Bích T đóng vai trò chính, bị cáo trực tiếp ghi đề và là thầu đề, còn bị cáo T1 và V là người hỗ trợ cho bị cáo T, cả hai có vai trò ngang nhau. Các bị cáo đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ nên khi quyết định hình phạt cần xác định rõ vai trò, tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ cũng như là nhân thân của các bị cáo, để cân nhắc đưa ra mức hình phạt phù hợp, cụ thể như sau:

[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng cho tất cả các bị cáo. Bị cáo T là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một mình đang nuôi con và cha mẹ già nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 là người cao tuổi và người bị khuyết tật nặng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Phạm Thị Tường V khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, khả năng nhận thức hành vi còn hạn chế nên được áp dụng thêm điều luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91, 98 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Ngoài ra, xét nhân thân của các bị cáo thì thấy các bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị cơ quan nhà nước xử phạt về hành vi nào trước đó. Các bị cáo tuy phạm tội 02 lần trở lên nhưng các lần phạm tội đều là phạm tội ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống của xã hội, mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo T, T1 bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024 đến ngày 22/02/2024, theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Hình sự quy định “Nếu người bị kết án bị tạm giữ, tạm giam thì thời hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ” như vậy phải trừ đi thời gian đã bị tạm giữ là 03 ngày = 09 ngày cải tạo không giam giữ cho bị cáo T và T1.

[6] Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo V đề nghị Hội đồng xét xử: Cho bị cáo V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51, Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo V mồ côi cha ở với mẹ nhưng do mẹ có điều kiện kinh tế khó khăn nên gửi bị cáo V cho cậu nuôi, bị cáo học đến lớp 11 thì bỏ học đi xin việc để làm nên Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của người bào chữa áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo T1 là người khuyết tật nặng, người cao tuổi, bị cáo V đang áp dụng quy định xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, hiện tại cả ba bị cáo không có công việc ổn định hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo T, T1 và V.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền Việt Nam 31.929.000 đồng, trong đó số tiền 11.770.000 đồng T bán số đề mà có, đây là khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; Số tiền còn lại 20.159.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo T, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T là có căn cứ.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 8 PLUS, màu đen, 64GB, số IMEI: 353009092011810 của bị cáo T không liên quan đến việc ghi số đề, bị cáo có yêu cầu nhận lại nên trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 14 PRO MAX, màu trắng, 256GB, số IMEI: 357170851035428 của bị cáo V không liên quan đến việc ghi số đề, bị cáo có yêu cầu nhận lại nên trả lại cho bị cáo là có căn cứ.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, số seri: 356333057954286 của Vũ Thị Kim N1 không liên quan đến việc ghi số đề nên trả lại cho bà N1 là đúng quy định.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 14 PRO MAX, màu đen, 128GB, số IMEI: 353665904668657 của bị cáo T dùng vào việc ghi số đề nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE X, màu đen, 256GB, số IMEI: 359412081850756 của bị cáo T1 dùng vào việc ghi số đề nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Về các vấn đề khác:

  • Đối với hành vi đánh bạc của Vũ Thị Kim N1, Lê Thị Bích H, Bùi Thị Kim L và Lê Thị L1 dưới 5.000.000 đồng và không có tiền án tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
  • Đối với người sử dụng thuê bao số 0777574083 và 0908381549 bị cáo T1 lưu “Chị T3” nhưng không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên không làm việc được, Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Thị Bích T, Trần Gia T1 và Phạm Thị Tường V cùng phạm tội “Đánh bạc".

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đỗ Thị Bích T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ trừ thời gian 09 (chín) ngày đã cải tạo không giam giữ. Bị cáo Đỗ Thị Bích T phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ và bản sao bản án; Giao Đỗ Thị Bích T cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo Khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

    Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Thị Bích T số tiền 30.000.000₫ (ba mươi triệu đồng).

    Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, p khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Gia T1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ trừ thời gian 09 (chín) ngày đã cải tạo không giam giữ. Bị cáo Trần Gia T1 phải chấp hành 08 (tám) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ và bản sao bản án; Giao Trần Gia T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo Khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 91, Điều 98; Điều 100; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Phạm Thị Tường V 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án hình phạt cải tạo không giam giữ và bản sao bản án; Giao Phạm Thị Tường V cho Ủy ban nhân dân phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo Khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.

  5. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    • Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị Bích T 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 8 PLUS, màu đen, 64GB, số IMEI: 353009092011810.
    • Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị Bích T số tiền 20.159.000 đồng theo Giấy nộp tiền ngày 25/6/2024.
    • Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Tường V 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 14 PRO MAX, màu trắng, 256GB, số IMEI: 357170851035428.
    • Trả lại cho bà Vũ Thị Kim N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu đen, số seri: 356333057954286.
    • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE 14 PRO MAX, màu đen, 128GB, số IMEI: 353665904668657.
    • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE IPHONE X, màu đen, 256GB, số IMEI: 359412081850756.
    • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.770.000₫ theo Giấy nộp tiền ngày 25/6/2024.

    Các vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 99 ngày 25 tháng 6 năm 2024.

  6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (09/8/2024); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt đúng quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - VKSND TP. Bà Rịa;
  • - CCTHADS TP. Bà Rịa;
  • - Công an TP. Bà Rịa (02 bản);
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Thị Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đanh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger