Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HSST

Ngày: 08/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang

2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Nhật - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024 đối với bị cáo:

Võ Văn M, Sinh năm: 1962; Nơi sinh: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông: Võ Văn N (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị L (Đã chết); Vợ: Phan Thị H; Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1996 Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt)

* Bị hại: Ông Võ Công Đ, Sinh năm 1977; Nơi cư trú: trú thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Võ Công S, sinh năm 1920. Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 55 phút ngày 16/12/2023, Võ Văn M sau khi đi dự đám cưới có uống bia đã điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 86B6-318.27 chở theo ông Huỳnh Kim S1 lưu thông trên đường N, hướng từ Dinh Thầy T ra Ngãnh T. Khi đến giao lộ đường N + Võ Văn T thuộc thôn H, xã T, thị xã L đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 86B6-046.46 do ông Võ Công Đ điều khiển, đi từ đường V hướng từ Mộ D đi ra cổng sau Dinh, chuyển hướng vào đường N. Hậu quả làm ông Đ tử vong tại chổ, ông M và ông S1 bị thương tích nhẹ, hai xe mô tô hư hỏng.

* Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 32 ngày 24/01/2024 của trung tâm giám định Pháp y - Y khoa tỉnh B kết luận thương tích và nguyên nhân tử vong của ông Võ Công Đ như sau:

  • + Lún, nứt xương sọ vùng chẩm trái.
  • + Gãy ½ dưới hai xương cẳng chân trái.

- Kết quả xét nghiệm, giám định khác:

  • + Nồng độ cồn Ethanol trong máu: 0,7 mg/100ml.

- Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng dẫn đến tử vong.

* Bản kết luận giám định độc chất số 386 ngày 02/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế thành phố H kết luận: Nồng độ ethanol (cồn) trong máu toàn phần của ông Võ Công Đ là 0,71 mg/100ml.

* Tại Công văn số 77 ngày 19/01/2024 của Bệnh viện Đ1 xác nhận tình trạng thương tích và nồng độ cồn trong máu của ông Võ Văn M như sau:

  • - Vết thương tai phải + chân mày trái; sưng khu trú vùng đầu.
  • - Kết quả định lượng nồng độ cồn trong máu là 7,8mg/dl.

- Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L lập lúc 13 giờ 30 phút ngày 16/12/2023, hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện như sau:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra nằm trong giao lộ (ngã tư) giữa đường N và đường V thuộc thôn H, xã T, thị xã L, Bình Thuận. Mặt đường được trải nhựa bê tông phẳng, bề rộng mặt đường V đo được là 6m, đường cho phép xe chạy hai chiều ngược nhau; bề rộng mặt đường N đo được là 10,5 mét, giữa tim đường có bố trí vạch kẻ không liên tục sơn màu vàng chia mặt đường thành hai phần cho phép xe chạy thành hai chiều ngược nhau. Chon hướng đi D Thím về Ngãnh T làm hướng chuẩn khám nghiệm, phần đường bên phải đường N theo hướng chuẩn khám nghiệm đo được là 5,15m. Cách hiện trường 75m về hướng đi D Thím trên đường N là biển báo nguy hiểm số W.205a “Đường giao nhau” được đặt trong lề phải theo hướng chuẩn khám nghiệm, cách hiện trường 50m về hướng Mộ Thầy Thím trên đường V là biển báo nguy hiểm số W.205a “Đường giao nhau” được đặt trong lề phải theo hướng Mộ Thầy T1 đi cổng sau Dinh. Chọn mép đường bên phải và đường nối hai mép lề đường bên phải theo hướng chuẩn khám nghiệm của đường N làm lề chuẩn, tất cả các dấu vết, phương tiện được mô tả như sau:

  • - Nằm trên mặt đường nhựa trong giao lộ có vết xước đứt quãng kéo dài theo hướng chuẩn, vết xước có chiều dài là 0,9m, điểm rộng nhất là 0,035m, đầu vết xước đo vào lề chuẩn là 3,8m, cuối vết xước đo vào lề chuẩn là 3,8m. Vết xước này được đánh số thứ tự 1 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trong giao lộ trên mặt đường nhựa có vết khuyết kích thước 0,01 x 0,01m, có độ sâu là 0,1 cm, vết khuyết đo vào lề chuẩn được 4,1m. Vết khuyết này được đánh số thứ tự 2 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trên mặt đường nhựa trong giao lộ có vết xước đứt quãng kéo dài theo hướng hơi chếch ra tim đường, vết xước có chiều dài 1,7m, điểm rộng nhất là 0,01m, đầu vết xước đo vào lề chuẩn là 4,8m, cuối vết xước đo vào lề chuẩn là 5,2m. Vết xước này được đánh số thứ tự 3 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trên mặt nhựa trong giao lộ là vị trí xe mô tô BKS 86B6-046.46 ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay vào lề trái đường Ngô Đức T2 hơi chếch về hướng đi Ngãnh T, đuôi xe quay vào lề chuẩn hơi chếch hướng đi Dinh Thầy T3, tâm trục trước đo vào lề chuẩn được 5,6m, tâm trục sau đo vào lề chuẩn được 4,2m. Vị trí xe mô tô 86B6-046.46 được đánh số thứ tự 4 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trên mặt đường nhựa trong giao lộ ở giữa đường N là tử thi ông Võ Công Đ, đầu tử thi quay về hướng đi D Thím hơi chếch vào trong lề trái đường N theo hướng chuẩn khám nghiệm, chân tử thi quay theo hướng chuẩn hơi chếch vào lề chuẩn, đầu tử thi đo vào lề chuẩn là 5,6m, gót chân tử thi đo vào lề chuẩn là 4,8m. Vị trí tử thi nam được đánh số thứ tự 5 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trên mặt đường nhựa trong giao lộ có vết máu, khô không rõ hình kích thích 0,8 x 0,5m, tâm vết máu đo vào lề chuẩn được 3,5m. Vị trí vết máu được đánh số thứ tự 6 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trên mặt đường nhựa trong giao lộ có vết xước đứt quãng kéo dài theo hướng chuẩn hơi chếch vào lề chuẩn, vết xước có chiều dài 2,8m, điểm rộng nhất là 0,01m, đầu vết xước đo vào lề chuẩn là 2,4m, cuối vết xước là vị trí tiếp xúc giữa gác chân trước bên phải xe mô tô BKS 86B6-318.27 với mặt đường do vào lề chuẩn được 0,95m và được đánh số thứ tự 7 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Nằm trên mặt đường nhựa trong giao lộ là vị trí xe mô tô biển số 86B6-318.27 ngã nghiêng bên phải, đầu xe quay vào hướng đi Dinh Thầy Thím hơi chếch ra giữa đường, đuôi xe quay vào hướng đi Ngãnh T hơi chếch vào lề chuẩn, tâm trục trước đo vào lề chuẩn là 1,1m, tâm trục sau đo vào lề chuẩn là 0,8m. Vị trí xe mô tô trên được đánh số thứ tự 8 trên sơ đồ hiện trường.
  • - Từ tâm trục trước xe mô tô biển số 86B6-318.27 đo ra giữa đường chếch về hướng đi D Thím 5,3m là vị trí tâm trục sau xe mô tô 86B6-046.46.
  • - Từ vị trí tâm trục trước xe mô tô 86B6-318.27 đo ra giữa đường hơi chếch về hướng đi Ngãnh T 2,5m la vị trí vết máu.
  • - Từ vị trí trục trước xe mô tô biển số 86B6-046.46 đo theo hướng chuẩn 2,9m là vị trí đầu tử thi nam.
  • - Từ vị trí tâm trục trước xe mô tô 86B6-046.46 đo về hướng đi D Thím hơi chếch vào lề chuẩn được 1,6m là đầu vết khuyết 2.
  • - Từ vị trí vết khuyết 2 đo về hướng đi D Thím chếch vào lề chuẩn 0,35m là đầu vết xước 1.

* Kết quả khám xe mô tô 86B6-318.27 vào ngày 18/12/2023 thể hiện:

Đầu chụp tay lái (P) có vết mài mòn 2 x 1cm; Ốp nhựa đầu đèn trước (P) bị bể 2cm; Chụp đèn xi nhan (P) có vết nứt dài 8cm; Cụm đèn chiếu sáng trước bị bể rời khỏi vị trí; Cánh bửng chắn gió ngoài phía trên (P) bị bể 12cm; Ốp nhựa ống sườn phía trên bị bể 14cm; Chảng ba phía dưới bị cong đẩy vào trong hướng từ phải sang trái; Ti nhún trước phía trên (T) (P) cong đẩy về sau hướng từ phải qua trái; Vành trước (P) có vết móp thụng kích thước 14x3cm; (T) có vết móp thụng kích thước 10 x 3cm; Đầu cần đạp thắng phía dưới có vết mài mòn kích thước 2 x 0,1cm; Đầu gác chân trước (P) có vết mài mòn kích thước 2 x 0,5cm; phía dưới có vết mài mòn 2,5 x 1,5 cm, cong đẩy về phía trước 9cm; Tay nắm sau bên phải có vết mài mòn kích thước 22 x 3cm, bị cong đẩy xuống dưới 4cm; Ốp nhựa sườn sau (P) có vết mài mòn kích thước 6 x 1cm; Nắp ốp nhựa trên sau có vết mài mòn kích thước 6 x 3cm; Tấm chắn nhiệt phía sau có vết móp mài mòn kích thước 6 x 2cm; Nắp tay lái sau (T) bị bể 13cm; Bừng chắn gió trong, ngoài (T) bị bể khỏi xe.

* Kết quả khám xe mô tô 86B6-046.46 vào ngày 18/12/2023 thể hiện:

Gương chiếu hậu (T) rời khỏi xe; Tay thắng trước (T) có vết xước hằn đen không liên tục kích thước 13 x 1cm; Nắp tay lái trước phía dưới (T) bị bể kích thước 2 x 3cm; Ốp nhựa chắn gió trước, mặt ngoài (T) có vết xước mài mòn, hằn trắng kích thước 27 x 30cm, bị bể kích thước 5,5 x 2cm; Ốp nhưa chắn bùn trong (T) bị bể 30cm; Tấm sàn để chân (T) bị bể kích thước 27 x 15cm; Giá đỡ tấm sàn để chân (T) bị gãy, cong đẩy về sau 20cm; Đầu chụp tay lái (P) có vết mài mòn kích thước 2 x 2cm; Ghi đông tay lái (P) cong đẩy xuống dưới 7cm; Tấm sàn để chân mặt ngoài (P) có vết mài mòn 10 x 2,5cm; Bass nhôm gác chân sau (P) bị gãy kích thước 3 x 1,5cm.

Tại Bản kết luận giám định số 1525 ngày 09/01/2024 của Phòng Ký thuật hình sự, Công an tỉnh B xác định:

Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông trên giao lộ Ngô Đức T2 + Võ Văn T thuộc thôn H, xã T, thị xã L:

  • - Xe mô tô biển số 86B6-318.27 có dấu vết va chạm: Trượt cao su màu đen mặt lăn bánh xe trước, gãy nan hoa, cong kim loại vành bánh xe trước, cong kim loại giảm sóc trước hai bên, chiều hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào tâm trục bánh xe; vỡ nhựa yếm chắn gió trước bên trái, trượt sướt kim loại mặt ngoài phía trước cần cố định phanh trước bên trái, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái phù hợp với các dấu vết va

chạm trên xe ô tô biển số 86B6-046.46: Vỡ nhựa đen chắn bùn trước, gãy thanh kim loại đỡ bậc gác chân trước bên trái, cong kim loại ốp bậc gác chân trước bên trái, trên bề mặt có bám dính chất màu đen, chiều hướng hơi xiên từ trước ra sau, từ trái qua phải; vỡ nhựa yếm chắn gió trước bên trái, trược xước, hằn lõm kim loại mặt ngoài khung sườn bên trái, chiều hướng hơi xiên từ trước ra sau, từ trái qua phải.

  • - Xe mô tô biển số 86B6-318.27 di chuyển trên đường N hướng đi từ Dinh Thầy T đi Ngãnh T; xe mô tô biển số 86B6-046.46 di chuyển trên đường N hướng đi vào Dinh Thầy T xiên từ phần đường bên phải qua phần đường bên trái (tính theo hướng Dinh Thầy T đi Ngãnh T).
  • - Xe mô tô biển số 86B6-318.27 va chạm với xe mô tô 86B6-046.46 tại phần đường bên phải theo hướng đi từ Dinh Thầy T đi Ngãnh T.
  • - Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe mô tô biển số 86B6-318.27 và của xe mô tô 86B6-046.46 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen đỏ mang BKS 86B6-046.46, số máy JF27E1015160, số khung RLHJF2703BV231631, xe đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc mang BKS 86B6-318.27, số máy JA39E0297872, số khung RLHJA3902HY297839, xe đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông.

Quá trình điều tra xác định, xe mô tô 86B6-046.46 thuộc sở hữu của ông Võ Công Đ; xe mô tô 86B6-318.27 thuộc sở hữu của chị Võ Thị N1, Sinh năm 1986, trú thôn H, xã T, thị xã L – là con ruột của bị cáo Võ Văn M. Ngày 16/12/2024, chị N1 đi công việc nên để xe mô tô 86B6-318.27 ở nhà, bị cáo M đã tự ý lấy xe mô tô để đi và không hỏi ý kiến của chị N1, chị N1 không biết và không giao xe cho bị cáo điều khiển, vì vậy Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ sở hữu xe gây tai nạn.

Ngày 16/04/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L ra Quyết định xử lý vật chứng số 549, trả lại xe mô tô 86B6-318.27 cho chị Võ Thị N1; trả lại xe mô tô 86B6-046.46 cho ông Võ Công H1 là anh ruột của nạn nhân Võ Công Đ.

* Về dân sự:

- Quá trình điều tra, gia đình bị cáo yêu cầu bồi thường 60 triệu đồng. Tại tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 80 triệu đồng (Gồm chi phí mai táng 65 triệu đồng, chi phí sửa xe là 5 triệu đồng và bù đắp tổn thất về tinh thần là 10 triệu đồng), bị cáo đã bồi thường 05 triệu đồng nên yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 75 triệu đồng. Đề nghị xử lý trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định của pháp luật.

- Ông Huỳnh Kim S1 là người ngồi sau xe do bị cáo M điều khiển chỉ bị thương tích nhẹ, trầy xước, không nhập viện điều trị nên không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

- Chị Võ Thị N1 đã nhận lại xe mô tô 86B6-318.27; Ông Võ Công H1 đã nhận lại xe mô tô 86B6-046.46, không ai có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Võ Văn M, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Văn M và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Văn M, phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; Áp dụng: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Phạt bị cáo Võ Văn M, mức án từ 03 đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 591 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Võ Văn M phải có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại ông Võ Công S số tiền là 75.000.000 (Bảy mươi lăm triệu) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 15.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 60.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn M khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất, để bị cáo có điều kiện đi làm lo cho gia đình vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại Tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ khẳng định: Vào khoảng 12 giờ 55 phút ngày 16/12/2023, Võ Văn M mặc dù không có giấy phép lái xe theo quy định, nhưng sau khi đi dự đám cưới có uống bia với tỷ lệ nồng độ cồn trong máu là 7,8mg/dl, đã điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 86B6-318.27 chở theo ông Huỳnh Kim S1 lưu thông trên đường N, hướng từ Dinh Thầy T ra Ngãnh T. Khi đến giao lộ đường N + Võ Văn T thuộc thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (đây là đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, nơi đường bộ giao nhau cùng mức) nhưng bị cáo thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã xe mô tô mang biển kiểm soát 86B6-318.27 do bị cáo điều khiển tông vào xe mô tô biển kiểm soát 86B6-046.46 do ông Võ Công Đ điều khiển, đi từ đường V hướng từ Mộ D đi ra cổng sau Dinh, chuyển hướng vào đường N. Hậu quả làm ông Võ Công Đ tử vong tại chổ, ông M và ông S1 bị thương tích nhẹ, hai xe mô tô hư hỏng.

Hành vi trên của bị cáo Võ Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo Võ Văn M điều khiển xe mà “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”. Đây là các tình tiết định khung hình phạt của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại các điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Võ Văn M theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo không có có giấy phép lái xe theo quy định và đã uống rượu bia nhưng tỏ ra xem thường, chủ quan đã va chạm với xe mô tô biển số 86B6-046.46 do ông Võ Công Đ điều khiển, gây tai nạn hậu quả làm ông Võ Công Đ tử vong.

Mặc dù bị hại có một phần lỗi nhưng nguyên nhân vụ tai nạn giao thông là lỗi của bị cáo. Bởi lẽ: Khi điều khiển xe mô tô tới nơi đường bộ giao nhau cùng mức bị cáo đã thiếu quan sát và không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn, gây tai nạn giao thông làm chết người. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Giao Thông Đường Bộ; Điều 5 Thông Tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29 tháng 8 năm 2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật; xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ; gây thiệt hại về tính mạng con người. Do đó, cần xử lý và phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi gây tai nạn bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại; bị cáo phạm tội lần đầu; Hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn; Đây là các

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, bị cáo Võ Văn M có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo đã lớn tuổi, gia đình khó khăn, thuộc hộ nghèo tại địa phương, bị hại cũng có một phần lỗi. Hơn nữa, khi được xem xét cho tại ngoại tại địa phương thì bị cáo không có vi phạm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát thị xã L đã truy tố đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo yêu cầu bồi thường 60 triệu đồng. Tại tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 80 triệu đồng (Gồm chi phí mai táng 65 triệu đồng, chi phí sửa xe là 5 triệu đồng và bù đắp tổn thất về tinh thần là 10 triệu đồng) và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Bị cáo đã bồi thường 05 triệu đồng nên yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 75 triệu đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại.

Xét thấy các yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại là những chi phí thực tế, hợp lý, pháp luật có quy định, việc thỏa thuận về bồi thường dân sự giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên. Buộc bị cáo Võ Văn M phải có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 75.000.000 đồng. Tuy nhiên, được khấu trừ vào số tiền 15.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi theo biên lai số 0003852, ngày 02/8/2024. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 60.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Võ Văn M tự ý điều khiển xe mô tô 86B6-318.27, chị Võ Thị N1 không biết. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L không xử lý đối với Võ Thị N1 là phù hợp.

Ông Huỳnh Kim S1 là người ngồi sau xe do bị cáo điều khiển chỉ bị thương tích nhẹ, trầy xước, không nhập viện điều trị nên không yêu cầu giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự, nên HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn nộp án phí. Do đó, bị cáo được miễn nộp án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

  • - Điểm a, điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • - Khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Điều 357, 468, 584, 585, 586, 591 của Bộ luật dân sự.
  • - Điều 12, Điều 15, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn M phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[3] Xử phạt: Bị cáo Võ Văn M 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Võ Văn M phải có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại ông Võ Công S số tiền là 75.000.000 (Bảy mươi lăm triệu) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 15.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi theo biên lai số 0003852, ngày 02/8/2024. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 60.000.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản

tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[5] Về án phí: Bị cáo được miễn phí án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HSST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 96/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn M phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger