Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-7-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thanh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hải

2. Ông Đặng Song Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc Tú – Kiểm sát viên

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 222/2024/HNST ngày 23 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02-7-2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm: 1979 (có mặt)

Địa chỉ: thôn 2, xã Long Sơn, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Bị đơn: Ông Dương Văn X, sinh năm: 1973 (có mặt)

Địa chỉ: thôn 2, xã Long Sơn, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DỤ VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20-02-2024, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc D trình bày:

Bà D và ông X là vợ chồng, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2023 tại UBND xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vợ chồng bà D và ông X có hai con chung tên: Dương Kim Hoa, sinh ngày 28-02-1995 và Dương Văn Đậm, sinh ngày 25-02-1995. Từ khi đăng ký kết hôn đến nay vợ chồng thường ngày xảy ra mâu thuẫn trong hôn nhân, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm sống, không còn thương yêu nhau nữa nên vợ chồng sống không hạnh phúc. Hiện nay, ông X và bà D đang sống cùng nhà nhưng đã ly thân. Ông X và bà D đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vì thế bà D làm được xin được ly hôn với ông Dương Văn X.

Về con chung: Ông X và bà D có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh năm 1995 và Dương Văn Đậm, sinh năm 1995. Các con đã trưởng thành nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí HNGĐST: Bà D tự nguyện nộp

Bị đơn ông Dương Văn X trình bày:

Ông X và bà D sống với nhau như vợ chồng khoảng hơn 30 năm, đến năm 2023 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Trong thời gian chung sống với nhau, thời gian đầu hạnh phúc nhưng từ khi sinh cháu thứ hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bà D ngoại tình với người đàn ông khác nhưng ông X tha thứ cho bà D và cùng nhau chung sống đến hiện nay. Tuy nhiên, đến tháng 4-2024, bà D nộp đơn ly hôn, ông X cũng không biết lý do vì sao bà D nộp đơn ly hôn, chỉ nghĩ trước khi bà D nộp đơn thì ông X có đi chơi với mấy anh em trong nhà nhưng bà D nghĩ ông X đi chơi với bạn gái nên ghen tuông. Từ tháng 02-2024, ông X và D không ngủ chung với nhau và hơn 01 tuần nay, bà D tự ý chuyển đi nơi khác ở. Qúa trình chung sống với nhau không xảy ra xô xát, lúc nóng giận ông X chỉ ném một vài thứ nhưng không ném vào bà D. Nay bà D yêu cầu ly hôn, ông X không đồng ý vì vẫn còn thương yêu vợ, con và không muốn gia đình tan vỡ.

Về con chung: Ông X và bà D có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh năm 1995 và Dương Văn Đậm, sinh năm 1995. Các con đã trưởng thành nên ông X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các bên đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới cũng như không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người làm chứng hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về vụ án.

Tại phiên Tòa:

Bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và xác định không còn tình cảm gì với ông X. Bà D xác định: bà D và ông X có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh ngày 28-02-1995 và Dương Văn Đậm, sinh ngày 25-02-1995.

Ông X cho rằng: Hiện nay ông vẫn còn tình cảm với bà D nên không đồng ý theo yêu cầu ly hôn của bà D. Rất mong, Hội đồng xét xử hòa giải cho ông và bà D. Ông X xác định: bà D và ông X có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh ngày 28-02-1995 và Dương Văn Đậm, sinh ngày 25-02-1995.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư kí, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội D: Trong thời kỳ hôn nhân, ông X và bà D phát sinh mâu thuẫn và hiện nay đã ly thân, không cùng chung sống với nhau, bà D xác định không còn tình cảm với ông X và cương quyết ly hôn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: ông X và bà D không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Nguyễn Ngọc D có đơn khởi kiện về “Ly hôn” với ông Dương Văn X, có nơi cư trú tại thành phố Vũng Tàu nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội D:

[2.1] Về hôn nhân: Xét ông Dương Văn X và bà Nguyễn Ngọc D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 28-7-2023, như vậy hôn nhân giữa ông X và bà D là hợp pháp.

Thời gian đầu, ông X và bà D chung sống với nhau hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình ông X và bà D trình bày có khác nhau nhưng mâu thuẫn là có thật và theo thời gian thì mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Tòa đã cố gắng hòa giải, tạo điều kiện để ông bà có thời gian suy nghĩ lại nhưng không có kết quả, do bà D cương quyết ly hôn và xác định tình cảm vợ chồng không còn, níu kéo chỉ làm khó và khổ nhau. Ông X không đồng ý ly hôn, nhưng bản thân ông cũng xác định chưa có biện pháp nào hiệu quả để hàn gắn, cải thiện mối quan hệ rạn nứt và giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.

Xét thấy, mục đích của hôn nhân không đơn thuần chỉ là việc hai người cùng sống chung trong một mái nhà, hoặc chỉ cần tồn tại quan hệ vợ chồng bằng một văn bằng pháp lý là giấy chứng nhận kết hôn, mà ở đó là hai con người cùng chung mục đích phấn đấu để phát triển gia đình, cùng chung một khát khao xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cái trưởng thành, nên người. Xét quan hệ vợ chồng của ông X và bà D không còn sự đồng cảm, tôn trọng, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, thường xuyên mâu thuẫn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích và những căn cứ để hôn nhân cần tồn tại không còn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D, xử bà D ly hôn với ông X.

[2.2] Về con chung: Bà D và ông X có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh ngày 28-02-1995 và Dương Văn Đậm, sinh ngày 25-02-1995. Các con đã đủ tuổi trưởng thành nên ông X và bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông X và bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Bà D phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Dương Văn X và bà Nguyễn Ngọc D ly hôn.
  2. Về con chung: Ông X và bà D có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh ngày 28-02-1995 và Dương Văn Đậm, sinh ngày 25-02-1995. Các con đã đủ tuổi trưởng thành nên ông X và bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông X và bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc D nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005570 ngày 23-4-2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Như vậy, bà D đã nộp xong.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh BR-VT;
  • -VKSND TP. Vũng Tàu;
  • -THADS TP. Vũng Tàu;
  • -UBND X. Long Sơn, TP.VT;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà D yêu cầu được ly hôn với ông Dương Văn X. Về con chung: Ông X và bà D có 02 con chung là Dương Kim Hoa, sinh năm 1995 và Dương Văn Đậm, sinh năm 1995. Các con đã trưởng thành nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger