Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN CHÂU

TỈNH SƠN LA


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Văn Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Xuân Tư và bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống – Kiểm sát viên.

Ngày 08/5/2024, tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện T, Sơn La, Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/ TLST-HS ngày 19/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 25/4/2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn Đ; sinh ngày 18/10/2001 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Quàng Văn C (đã chết) và bà Quàng Thị D, sinh năm 1980; chưa có vợ, con; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 22/03/2021 bị TAND huyện Mường La ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng, chấp hành xong ngày 22/01/2023 (chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người tham gia tố tụng khác: Ông Lò Văn B, ông Lò Văn Đ1 - Cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp Công an huyện T, tỉnh Sơn La, có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 06/01/2024, Quàng Văn Đ đi bộ một mình từ nhà ở Tiểu khu B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La đến nhà một nam thanh niên tên là P (Đ không biết họ) ở bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nhà P thì Đ hỏi và mua được của P 01 (một) gói ni lon màu xanh bên trong có chứa Heroine với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, Đ cất gói ma túy vừa mua được cho vào túi áo khoác phía trước bên trái Đ đang mặc rồi đi bộ về. Sau đó, Đ đi bộ qua đường rừng cao su đến xã B, huyện T, tỉnh Sơn La để tìm việc làm thuê. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi Đ đang đi bộ trên khu vực đường thuộc bản Bó, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an xã B, huyện T yêu cầu kiểm tra ma túy, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quàng Văn Đ. Vật chứng thu giữ: 01(một) gói ni lon màu xanh bên trong có chứa bột cục màu trắng nghi là H.

Đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, tại Công an huyện T, tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh số bột màu trắng có trong gói ni lon màu xanh nghi là Heroine thu giữ của Quàng Văn Đ có khối lượng 0,15 gam (Không phẩy mười lăm gam ) trích toàn bộ 0,15 g làm mẫu gửi giám định chất ma túy ký hiệu Đ1.

Tại kết luận giám định số: 264/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S, kết luận: "Mẫu ký hiệu Đ1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H), có tên Khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0, 15 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0, 15 gam, loại Heroine (H), có tên Khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 17/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố bị cáo Quàng Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Quàng Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫.

Bị cáo tự bào chữa: Nhất trí với phần luận tội của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận: Để có ma tuý sử dụng, 06/01/2024, Quàng Văn Đ đã mua cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân và đã bị Tổ công tác công an xã B, huyện T, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo nhất trí với hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 06/01/2024; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 264/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quàng Văn Đ đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 17/4/2024 của VKSND huyện Thuận Châu truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, biết rõ chất ma túy là chất Nhà nước cấm mua bán, sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu, năm 2021 bị TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 22 tháng, bị cáo chấp hành xong ngày 22/01/2023, đến nay chưa được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa tỏ ra ăn năn hối cải về việc đã làm, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Từ sự phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh xét thấy, bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Vật chứng vụ án: Đối với vật chứng gồm: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì thư niêm phong là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[7] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án: Bị cáo khai khối lượng 0,15 g Heroine do bị cáo mua của người đàn ông tên là P, trú tại: bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La vào ngày 06 tháng 01 năm 2024. Quá trình điều tra, xác minh tại bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La có một người tên là Lèo Văn P, sinh năm 1991. Công an huyện T đã triệu tập Lèo Văn P để lấy lời khai và đối chất giữa Đ và P, nhưng P không thừa nhận việc bán ma túy cho Đ. Do chỉ có một lời khai duy nhất của Đ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Lèo Văn P về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Buộc bị cáo Quàng Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng ma tuý đã thu giữ trong vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2024

    Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong có viền xanh đỏ, ngoài ghi: “Vật chứng nhập kho vụ Quàng Văn Đ – TTTPCMT, bắt ngày 06/01/2024”. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh S số: 025968 đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Sơn La. Bên trong có: 01 mảnh nilon màu xanh + 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/5/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Thuận Châu (2);
  • - Cơ quan THADS huyện Thuận Châu;
  • - Công an huyện Thuận Châu;
  • - Cơ quan THAHS huyện Thuận Châu (2);
  • - Bị cáo;
  • - Trại tạm giam;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nông Văn Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger