|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Nga - Nguyên Bí thư Đoàn – Công ty Dệt Thắng Lợi
- Ông Võ Văn Tốt – Cán bộ hưu trí
Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Kim Quyên - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 12
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST – HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 07/2/2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Huỳnh Văn T, sinh ngày: 24/3/1995 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đ, thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú hiện nay: 141 tổ D, Trung Mỹ Tây B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Minh T1 và bà Lê Thị H; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 22/3/2023, có mặt.
2/ Họ và tên: Đào Minh Q, sinh ngày: 31/10/2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 139/32 tổ D, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: dân quân tự vệ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Phú D và bà Trần Thị Kim C; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/11/2022, có mặt.
3/ Họ và tên: Trần Thế N, sinh ngày: 20/01/2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 30/2H tổ A, ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thế B và bà Nguyễn Thị T2; tiền án: Ngày 03/7/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 82/2019/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2022, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/11/2022, có mặt.
4/ Họ và tên: Vũ Hồng Q1, sinh ngày: 09/01/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 38 đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân B1 và bà Nguyễn Thị C1; tiền án: không; tiền sự: Ngày 18/11/2020 bị Tòa án nhân dân Quận 12 ra Quyết định số 108/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy số 01, ngày 30/11/2021 chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/11/2022, có mặt.
5/ Họ và tên: Nguyễn Hoàng T3, sinh ngày: 05/3/1997. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 40/1 B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú hiện nay: 2635 đường Q, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Nguyễn Thị Ngọc O; tiền án: không; tiền sự: Ngày 07/01/2016 Công an phường T, Quận A ra Quyết định số 0029310/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng máy trò chơi điện tử trái phép. Ngày 04/3/2016 nộp phạt số tiền 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 28/11/2022, có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người bị hại: Huỳnh Hiếu, sinh ngày: 11/01/2006 (xin vắng mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 134/105 tổ B, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện hợp pháp cho em Huỳnh H1 là ông Huỳnh T4, sinh năm: 1975; nơi cư trú hiện nay: 134/105 tổ B, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho em Huỳnh H1: Ông Đoàn Trọng N1, Luật sư Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H; địa chỉ: D N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T là Luật sư Nguyễn Văn T5 – Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: D P, Thành phố H (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 134/162 đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Phạm Gia H3, sinh năm: 2004; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 134/162 đường T, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Phạm Thị T6, sinh năm: 1976; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: C ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Trần Thế B, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: 30/2h ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Hồ Minh C2, sinh năm: 1982; nơi cư trú hiện nay: D tổ B, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Ngô Thanh H4, sinh năm: 2001; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 43/13/4/3 T, phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 23/11/2022, Huỳnh H1 (sinh ngày 11/01/2006) có tham gia cá cược bóng đá với Phạm Gia H3 với số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng trong trận đá bóng World cup 2022 giữa hai đội bóng Đ và N, quá trình cá cược thì H1 thua cá cược nhưng không có tiền trả cho H3. Tuy nhiên, H3 chỉ lấy “kèo” cá cược từ phía Huỳnh Văn T để được hưởng tiền huê hồng từ T nên H3 có báo cho T biết H1 không có tiền trả nợ cá cược bóng đá.
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/11/2022, T gọi điện thoại cho Trần Thế N, Đào Minh Q để tìm H1 đòi nợ thì N, Minh Q đồng ý mà không được T hứa hẹn sẽ chia tiền nếu đòi được nợ. Đào Minh Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu xanh, biển số 59P2-81415 đến nhà T và gặp N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 59Y1-25604, Q chở T cùng với N (chạy xe một mình) đi đến quán C3, địa chỉ không số, tổ B, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đòi nợ với số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, Q, T, N đến trước cửa quán C3 thì thấy Huỳnh H1 đang ngồi uống nước trong quán với một người bạn trai thì T cùng với Đào Minh Q xuống xe mô tô và đi đến bàn của H1. T dùng tay phải nắm cổ phía sau gáy, còn Q dùng tay phải nắm cổ áo H1 và nói “mày thiếu nợ sao không trả” rồi T cùng với Q bắt ép H1 lên xe mô tô của Trần Thế N để N điều khiển xe mô tô chở H1 ngồi giữa, T ngồi sau bẻ gập hai tay của H1 ra phía sau rồi chở về khu nghĩa địa tại tổ D, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đào Minh Q điều khiển xe mô tô chạy theo xe mô tô của N đang chở H1 và T.
Tại khu nghĩa địa, Huỳnh Văn T, Đào Minh Q và Trần Thế N đánh H1 bằng tay, chân, cụ thể: Q, T dùng tay đánh vào ngực và vùng mặt của H1, còn N dùng chân trái để đạp lên đùi của H1 để đòi nợ H1, khoảng 05 phút sau, N gọi điện thoại cho Vũ Hồng Q1 đến khu nghĩa địa nơi cả nhóm đang giữ H1. Khi đến khu nghĩa địa Q1 có chở theo Nguyễn Hoàng T3.
Khi Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3 đến thì Trần Thế N có việc nên ra về trước còn lại Huỳnh Văn T, Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3, Đào Minh Q thì T, Hồng Q1, T3 tiếp tục đánh H1 bằng tay, sau đó Đào Minh Q đi về nhà, còn Nguyễn Hoàng T3 tự ý đi về nhà của T gần khu nghĩa địa nơi bắt, giữ H1 tại địa chỉ phòng trọ số B, số A tổ D, khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán gỗ có phần lưỡi dào 40 cm quay lại và chỉ hướng về phía H1 và nói “mày không trả nợ, tao chém chết mày luôn”, thì được T căn ngăn. Còn Hồng Q1 đi vệ sinh nên không nhìn thấy T3 cầm dao đe dọa H1.
Lúc này, trong người H1 còn số tiền tổng cộng là 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng nên H1 lấy ra đưa hết số tiền này cho T và yêu cầu T cho nợ số tiền còn lại sẽ trả sau thì T đồng ý, khi H1 đưa số tiền này cho T thì T đưa cho Vũ Hồng Q1 giữ. Sau đó, T gọi điện cho H3 đến khu nghĩa địa chở H1 về nhà H1, còn các đối tượng còn lại giải tán. Sau đó, gia đình H1 chở H1 đến Công an phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc.
Quá trình điều ra, tại biên bản hỏi cung ghi ngày 22/3/2023 Huỳnh Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Tuy nhiên, tại biên bản hỏi cung ghi ngày 17/5/2023 Huỳnh Văn T thay đổi lời khai không thừa nhận số tiền cá cược bóng đá H1 nợ là nợ tiền Tài, không thừa nhận hành vi cùng Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3 dùng tay đánh H1 để H1 sợ và đưa số tiền 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng cho T, T cũng không phải là người cầm tiền H1 đưa. Khi Hồng Q1 và T3 đến nơi bắt, giữ H1, T chỉ can ngăn và giúp H1 lau vết thương.
Vật chứng và xử lý vật chứng:
- 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán bằng nhựa dài 10 cm và có phần lưỡi dài khoảng 20 cm;
- Tiền Ngân hàng N2 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng là số tiền H1 trả nợ cho T;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, loại Noino, màu xanh, biển số 53R4-8287, số khung: không xác định, số máy: GCTTOE 0000762, đã qua sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q3 đang xác minh, đăng báo tìm chủ sở hữu.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu honda winner, màu xanh-trắng-đen, biển số 59P2-814.15, số khung: KC26E1204313, đã qua sử dụng do anh Ngô Thanh H4 đứng tên chủ sở hữu. Ông C2 trình bày ông C2 mua xe của ông H4 vào năm 2022, chưa làm thủ tục sang tên. Xe do ông C2 sử dụng và cho con là Hồ Nhựt T7 mượn đi công việc. Sau đó, T7 cho Đào Minh Q mượn. Ông C2 và T7 không biết Q sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q3 đã trả lại cho ông C2.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng-bạc-đen, biển số 59Y1-056.04, số khung: y-075277, số máy: JF33E-0075357, đã qua sử dụng do anh Trần Thế B đứng tên chủ sở hữu. Bà T6 vợ ông B trình bày xe do ông B mua vào năm 2012 và sử dụng cho đến nay. Ông B đi làm xa để xe ở nhà, Trần Thế N là con ông B, bà T6 mượn xe đi công việc. Ông B, bà T6 không biết N sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q3 đã trả lại cho ông B, bà T6.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Drum, màu nâu, biển số 51Y3-2167, số khung: VKVPCG0011L0102140, số máy: VKV1P50FMG30112140, đã qua sử dụng do anh Đặng Thế T8 đứng tên chủ sở hữu. Bà Nguyễn Thị H2 trình bày bà H2 mua xe ông T8 vào năm 2018 với giá 5.000.000 (năm triệu) đồng, khi mua xe chỉ viết giấy tay, chưa làm thủ tục sang tên. Bà H2 cho con Phạm Gia H3 mượn xe đi công việc nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q3 đã trả lại cho bà H2.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu Gold số Imei 1: 353242104490231, số I: 35324104551297 (thu giữ của Đào Minh Q);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, số Imei: 356545103028870 (thu giữ của Phạm Gia H3);
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q3 đã trả điện thoại di động lại cho gia đình các bị can và người liên quan.
Về dân sự: Bị hại Huỳnh H1 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bản Cáo trạng số 19A/CTr-VKS ngày 20/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Quận 12 để xét xử bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Truy tố bị cáo Trần Thế N về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Truy tố bị cáo Vũ Hồng Q1 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T3 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên lời khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q, Trần Thế N, Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Hành vi của Trần Thế N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Hành vi của bị cáo Vũ Hồng Q1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q, Trần Thế N phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cướp tài sản”.
Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3 phạm tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Đào Mịnh Q2 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 157, điểm h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thế N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Hồng Q1 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T3 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán bằng nhựa dài 10 cm và có phần lưỡi dài khoảng 20 cm. tịch thu sung quỹ tiền Ngân hàng N2 số tiền 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng.
Giải quyết theo diện tài sản vắng chủ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 53R4-8287.
Bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q, Trần Thế N, Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3 không có ý kiến gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra có vi phạm tố tụng, có dấu hiệu không khách quan trong hồ sơ vụ án như các biên bản hỏi cung bị can và biên bản tự khai giống nhau gần 100%. Có 01 điều tra viên nhưng tổ chức cho 25 cuộc nhận dạng trong phạm vi 02 giờ đồng hồ. Từ 16 giờ đến 18 giờ ngày 21/3/2023, cơ quan điều tra tổ chức cho đối chất đến 06 lần, có tài liệu chuẩn bị sẵn để áp đặt cho hành vi phạm tội gây bất lợi cho bị cáo Huỳnh Văn T. Bị cáo Huỳnh Văn T không phạm tội cướp tài sản, Cáo trạng Viện kiểm sát buộc tội bị cáo là không có căn cứ vì Huỳnh H1 không có nợ tiền của tài.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huỳnh Văn T như: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, gia đình nội ngoại đều có ngời tham gia cách mạng, có người liệt sĩ, có người thương binh hy sinh và bị thương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoàn cảnh Huỳnh Văn T hiện nay đang rất khó khăn có con sinh mới được hơn 03 tháng tuổi, vợ nuôi con nhỏ không có việc làm, cha thì già yếu mất sức lao động, mẹ thì bị bệnh hiểm nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đã nhận thức được lỗi lầm nên ra đầu thú, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Huỳnh H1: Thống nhất với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có khiếu nại nên việc điều tra, truy tố là đúng quy định. Hành vi của các bị cáo với số lượng đông người phạm tội đối với bị hại dưới 18 tuổi là hành vi là rất nghiêm trọng vì gây hoang mang và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm sinh lý của trẻ vị thành niên nên cần xét xử nghiêm minh, tuy nhiên do nhận thức hạn chế nên các bị cáo không nghĩ hành vi của các bị cáo đòi tiền như vậy là phạm tội, tại phiên tòa các bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm nên đã nhận tội thể hiện sự ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình để các bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 26/11/2022, xuất phát từ việc Huỳnh H1 có nợ tiền cá cược đối với Huỳnh Văn T nên Đào Minh Q, Trần Thế N cùng đi tìm H1 để đòi nợ cho Huỳnh Văn T. Khi phát hiện Huỳnh H1 tại quán C3 địa chỉ không số, tổ B, khu phố C, phường T, Quận A, Huỳnh Văn T, Đào Minh Q, Trần Thế N đã cùng nhau thực hiện hành vi bắt Huỳnh H1 (sinh ngày 11/01/2006) lên xe máy chở đi đến khu vực đồng mã trái ý muốn của bị hại nhằm gây áp lực để H1 và gia đình H1 trả tiền nợ cá cược bóng đá cho T. Tại khu nghĩa địa, để đòi nợ Huỳnh H1; các bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q, Trần Thế N đã dùng tay chân đánh đá bị hại, cụ thể Q, T dùng tay đánh vào ngực và vùng mặt của H1, còn N dùng chân trái để đạp lên đùi của H1 buộc bị hại H1 phải trả tiền cho T. Do không có tiền nên các bị cáo yêu cầu bị hại điện thoại cho người thân là anh trai là Huỳnh D2 và cha ruột của bị hại là ông Huỳnh T4 để trả tiền thay cho bị hại. Do lo sợ nên bị hại đã điện thoại về cho ông Huỳnh D2 và Huỳnh T4 nhưng gia đình bị hại không có tiền trả, các bị cáo không những không dừng lại mà tiếp tục đánh bị hại, sau đó Trần Thế N còn điện thoại rủ thêm Vũ Hồng Q1 đến để giúp sức, khi Vũ Hồng Q1 đến chở theo Nguyễn Hoàng T3 đến, nhóm các bị cáo tiếp tục uy hiếp về mặt tinh thần và đánh ép buộc bị hại trả tiền cho T, riêng bị cáo T3 không bàn bạc với các đồng phạm mà tự ý chạy về nhà lấy con dao để đe dọa bị hại làm cho bị hại tê liệt ý chí và bị hại đã giao số tiền 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng còn trong người cho Huỳnh Văn T. Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q có đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Trần Thế N có đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 do bị cáo Trần Thế N trước đó đã có tiền án về tội “Cướp giật tài sản” trước đó nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là tình tiết định khung tăng nặng). Hành vi của bị cáo Vũ Hồng Q1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T3 có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (do dùng dao là phương tiện nguy hiểm thuộc tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự).
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền tự do cá nhân, quyền sở hữu tài sản của người khác mà hành vi này còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên các bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Đối với bị cáo Huỳnh Văn T:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự;
- Tình tiết tăng nặng: không
- Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội; sau khi bị phát hiện về hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có ông bà nội có công cách mạng và được tặng huy chương kháng chiến được chính quyền địa phương xác nhận; gia đình bị cáo được chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân xã H xác nhận hiện có hoàn cảnh khó khăn.
* Đối với bị cáo Đào Minh Q:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự;
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội; đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đối với bị cáo Trần Thế N:
- Về nhân thân: Tại Bản án số 82/2019/HSST ngày 03/7/2019 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2022, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
- Tình tiết tăng nặng: không
- Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đối với bị cáo Vũ Hồng Q1:
- Về nhân thân: Tháng 11/2020 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng theo Quyết định số 108/QĐ-TA ngày 18/11/2020 của Tòa án nhân dân Quận 12, chấp hành xong ngày 30/11/2021.
- Tình tiết tăng nặng: không
- Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo lần đầu phạm tội; đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T3:
- Về nhân thân:
- + Ngày 04/9/2019 Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 5624/QĐ-XPHC về việc xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, tịch thu tiêu hủy tang vật. Ngày 31/3/2023 nộp phạt số tiền 15.609.000 đồng (gồm tiền phạt vi phạm hành chính và phạt chậm nộp).
- + Ngày 07/01/2016 Công an phường T, Quận A ban hành Quyết định số 0029310 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng máy trò chơi điện tử trái phép. Ngày 04/3/2016 nộp phạt số tiền 1.500.000 đồng.
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị S có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Về bồi thường dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán bằng nhựa dài 10 cm và có phần lưỡi dài khoảng 20 cm xét cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng là tiền Huỳnh H1 trả cho T, H1 không yêu cầu T hoàn trả nên xét cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, loại Noimo màu xanh biển số 54R4-8287, số khung không xác định, số máy: GCTTOE 0000762 đã qua sử dụng, xét cần giao Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày đăng báo không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T trình bày quá trình điều tra có vi phạm về tố tụng, về thời gian nhận dạng, tuy nhiên quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa, các bị cáo đều khai quá trình điều tra hỏi cung, lấy lời khai không ai bị ép cung, đánh đập, không có bị áp đặt trong quá trình điều tra do đó không có cơ sở cho rằng việc điều tra vi phạm về tố tụng và vi phạm về thời gian theo quy định của pháp luật.
Việc Luật sư cho rằng hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T không phạm tội cướp tài sản, tuy nhiên căn cứ vào các lời khai của các bị cáo trong vụ án, qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn T thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 truy tố là đúng với diễn biến sự việc đã xảy ra, do bị cáo không hiểu biết và không biết hành vi của bị cáo như vậy là phạm tội cướp tài sản nên bị cáo mới phạm tội, xét thấy bị cáo T có cùng các đồng phạm với số lượng đông người có dùng vũ lực làm cho bị hại lâm vào tình trạng không chống cự được để mục đích chiếm đoạt số tiền của bị hại một cách trái pháp luật, bị cáo tham gia vụ án từ khi khởi xướng cho đến khi kết thúc và cuối cùng đã làm cho bị hại khiếp sợ giao số tiền 2.900.000 đồng trái với ý muốn của bị hại do đó hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản.
Đối với đề nghị của Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Huỳnh Văn T như: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, gia đình nội ngoại đều có nguời tham gia cách mạng, có người liệt sĩ, có người thương binh hy sinh và bị thương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoàn cảnh Huỳnh Văn T hiện nay đang rất khó khăn có con sinh mới được hơn 03 tháng tuổi, vợ nuôi con nhỏ không có việc làm, cha thì già yếu mất sức lao động, mẹ thì bị bệnh hiểm nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đã nhận thức được lỗi lầm nên ra đầu thú, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét đề nghị này của Luật sư là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023.
2. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đào Minh Q 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.
3. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157, điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Thế N 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.
4. Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vũ Hồng Q1 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.
5. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T3 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022.
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao tự chế bằng kim loại, cán bằng nhựa dài 10 cm và có phần lưỡi dài khoảng 20 cm.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 2.900.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng.
Giao 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, loại Noimo màu xanh biển số 53R4-8287, số khung không xác định, số máy: GCTTOE 0000762, đã qua sử dụng cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu, quá thời hạn 06 tháng kể từ ngày đăng báo không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 112/QĐ-VKS ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.
* Về án phí: Căn cứ Luật phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Huỳnh Văn T, Đào Minh Q, Trần Thế N, Vũ Hồng Q1, Nguyễn Hoàng T3 mỗi bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Các bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại vị thành niên có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Thị Xuân Mai |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: bắt, giữ người trái pháp luật và cướp tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Bắt, giữ người trái pháp luật và Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Tài 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Huỳnh Văn Tài phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2023. 2.Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157, khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đào Minh Quân 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022. 3.Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 157, điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Thế Nhật 02 (hai) năm tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của cả 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022. 4.Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Vũ Hồng Quân 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022. 5.Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tuấn 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2022. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;
