Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/9/2024

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Hải Yến.
  2. Bà Trần Thị Bích Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, về ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:100/2024/QĐXX-ST ngày 07/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 163/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1987; địa chỉ: A T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt tại phiên tòa.
  • Bị đơn: Anh Phạm Phú Nam S, sinh năm 1978; địa chỉ: D H, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/4/2024, lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, thì nội dung vụ việc như sau:

Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Phú Nam S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/6/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh S. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 5 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh S ham chơi cờ bạc, nợ nần nhưng dấu giếm vợ con, chị N đã trả nợ cho anh S nhưng anh S vẫn không hề thay đổi và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Phú Nam S.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Phú Nam S chung sống có sinh được 03 con chung tên là Phạm Nguyễn Phú Q, sinh ngày 09/11/2012; Phạm Nguyễn Phú T, sinh ngày 04/3/2015 và Phạm Nguyễn Phú T1, sinh ngày 19/5/2016. Hiện nay cháu Phú Q và cháu Phú T đang ở với chị N, cháu Phú T1 đang ở với anh S. Nếu Tòa án cho ly hôn thì chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Phú Q và Phú T đến lúc thành niên, đủ 18 tuổi; giao cháu Phú T1 cho anh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phú T1 đến lúc thành niên, đủ 18 tuổi và không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày, chị và anh S chung sống không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày, chị và anh S chung sống không có nợ của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì được biết: Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Phú Nam S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 07/6/2012. Quá trình chung sống giữa anh S và chị N có mâu thuẫn gì thì địa phương không rõ. Nay chị N xin ly hôn anh S thì địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần đến tận nhà anh S để tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cho anh Phạm Phú Nam S. Anh S đã trực tiếp nhận các giấy tờ của Tòa án nhưng vẫn không đến Tòa án để làm việc.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
  • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại các Điều 28; 35; 39; 68; các Điều 93, 94, 95, 96 và Điều 97; Điều 195; 196 và Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ, trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự.

  • - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đảm bảo, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc tuân theo pháp luật của đương sự:
  • + Đối với nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

    + Đối với bị đơn, vắng mặt tất cả các phiên hòa giải là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

  • - Quan điểm về việc giải quyết vụ án:
  • Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

    Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Phạm Phú Nam S.

  • Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Giao các cháu Phạm Nguyễn Phú Q, sinh ngày 09/11/2012 và Phạm Nguyễn Phú T, sinh ngày 04/3/2015 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc các cháu thành niên(Đủ 18 tuổi); Giao cháu Phạm Nguyễn Phú T1, sinh ngày 19/5/2016 cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc thành niên (Đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày, chị và anh S chung sống không có tài sản chung, không có nợ của ai nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Cẩm N có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Phạm Phú Nam S. Anh Phạm Phú Nam S hiện cư trú tại D H, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tòa án đã 02 lần tiến hành giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho anh S nhưng anh Phạm Phú Nam S không đến. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Huế tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

[2] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Phú Nam S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 07/6/2012. Quá trình chung sống thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly thân nên chị N xin ly hôn với anh S. Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập được tại phiên tòa và có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ chứng cứ để xác định hôn nhân của chị N và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Phía anh S không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn giữa chị N và anh S. Tất cả kết quả đều cho thấy mối quan hệ vợ chồng giữa chị N, anh S đã đến mức độ trầm trọng, vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc. Do đó, cần chấp nhận cho chị N được ly hôn anh S là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về việc nuôi con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Nguyễn Thị Cẩm N xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên là Phạm Nguyễn Phú Q, sinh ngày 09/11/2012 và Phạm Nguyễn Phú T, sinh ngày 04/3/2015 đến lúc thành niên (Đủ 18 tuổi); Giao con chung Phạm Nguyễn Phú T1, sinh ngày 19/5/2016 cho anh Phạm Phú Nam S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc thành niên (Đủ 18 tuổi).

Xét nguyện vọng của chị N cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu Phú Q, P, Phú T1 nên Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận: Giao các cháu Phú Q và Phú T cho chị N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc các cháu thành niên (Đủ 18 tuổi). Giao cháu Phú T1 cho anh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc cháu thành niên (Đủ 18 tuổi). Về tiền cấp dưỡng nuôi con không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày, chị và anh S chung sống không có tài sản chung, không có nợ của ai nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Cẩm N.

- Xử cho chị Nguyễn Thị Cẩm N được ly hôn với anh Phạm Phú Nam S, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về việc nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm N về việc nuôi con chung.

- Xử: Giao các cháu Phạm Nguyễn Phú Q, sinh ngày 09/11/2012 và Phạm Nguyễn Phú T, sinh ngày 04/3/2015 cho chị Nguyễn Thị Cẩm N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc các cháu thành niên (Đủ 18 tuổi). Giao cháu Phạm Nguyễn Phú T1, sinh ngày 19/5/2016 cho anh Phạm Phú Nam S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc cháu thành niên (Đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Phú Nam S có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

- Chị Nguyễn Thị Cẩm N và anh Phạm Phú Nam S có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức đóng góp phí tổn nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày, chị và anh S chung sống không có tài sản chung, không có nợ của ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0003992 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chị Nguyễn Thị Cẩm N. đã nộp đủ tiền án phí.

4. Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN HƯƠNG LAN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger