TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HSST
Ngày: 05 - 6 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Du
Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
Thư ký phiên toà: Bà Cao Viết Xuân Hòa, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh T, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (vô danh) và bà Nguyễn Thị Ú; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa.
- Bị hại: Bà Trương Thị Hà L, sinh năm 1990; trú tại: số A đường N, tổ G, khu A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh T và chị Trương Thị Hà L quen biết nhau qua mạng xã hội Facebook và có tình cảm nam nữ vào cuôi năm 2021. Trong khoảng thời gian quen biết, T có cho chị L một số tiền (hiện chưa xác định chính xác cụ thể bao nhiêu) để tiêu xài nhưng sau đó T biết chị L đã quen bạn trai mới nên T đòi lại chị L số tiền T đã cho chị L trước đó nhưng chị L không đồng ý.
Ngày 04/6/2023, Nguyễn Minh T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số thuê bao 0963.502.079 truy cập ứng dụng Telegram thì thấy tài khoản Telegram tên là Hồ Ly L1 có hình đại diện của chị L nên nhắn tin trò chuyện rồi hẹn gặp chị L ở khách sạn K, địa chỉ tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để nói chuyện xin lỗi vì đã đòi lại tiền trước đó thì chị L đồng ý. Đến khoảng 21 giờ ngày 05/6/2023, T đến khách sạn K và thuê phòng số 306 rồi nhắn tin bảo chị L mua 10 lon bia và 02 ổ bánh mì để cùng nhau ăn, uống.
Khoảng 22 giờ cùng ngày 05/6/2023, chị L đến phòng 306, khách sạn K. Tại đây, T và chị L cùng ăn và uống bia. Sau đó, do T và chị L có ý định thực hiện hành vi quan hệ tình dục nên chị L đi tắm thì T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số thuê bao 0963.502.079 của T lén đặt ở trên bàn trước giường ngủ để quay lại hình ảnh T và chị L quan hệ tình dục. Sau khi quay lại được hình ảnh T và chị L quan hệ tình dục, T giả vờ lấy điện thoại xem và tắt chế độ quay phim rồi cả hai cùng ngủ đến 10 giờ ngày 06/6/2023 thì T giả vờ đi mua đồ ăn sáng rồi bỏ về. Đối với chị L, do sau đó không thấy Trường quay lại nên đã thanh toán tiền phòng rồi đi về.
Đến buổi trưa ngày 08/6/2023, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số thuê bao 0963.502.079 cắt video hình ảnh T và chị L quan hệ tình dục tại khách sạn K thành nhiều đoạn với nhiều dung lượng khác nhau rồi lần lượt gửi cho chị L qua tài khoản T1 và yêu cầu chị L phải chuyển cho T số tiền 50.000.000 đồng thì T sẽ xóa đoạn video trên, nếu không thực hiện theo yêu cầu thì T sẽ đăng tải đoạn video trên lên mạng xã hội để bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của chị L. Tuy nhiên, chị L trả lời là không có tiền thì T nói với chị L chỉ cần chuyển cho T số tiền 30.000.000 đồng rồi T tiếp tục gửi cho chị L 01 đoạn video có thời lượng dài 07 phút thể hiện nội dung việc quan hệ tình dục giữa chị L với T và yêu cầu chị L phải chuyển đủ số tiền 30.000.000 đồng cho T. Do lo sợ việc bị T đăng tải video nhạy cảm lên mạng xã hội nên tối ngày 08/6/2023, chị L đã sử dụng tài khoản ngân hàng V số [...] chuyền số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản V số [...] của Nguyễn Minh T. Đến ngày 09/6/2023, T tiếp tục yêu cầu chị L chuyển cho T số tiền 15.000.000 đồng nhưng chị L không đồng ý và yêu cầu T đến gặp chị L để nói chuyện thì chị L sẽ đưa cho T số tiền 5.000.000 đồng. T không đồng ý và tiếp tục gửi đoạn video dài 06 phút 50 giây thể hiện nội dung việc quan hệ tình dục giữa chị L với T và yêu cầu chị L phải chuyển tiền cho T. Ngày 09/6/2023, chị L đến Công an phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương trình báo vụ việc trên. Đến ngày 11/6/2023, Công an phường C chuyển hồ sơ vụ việc trên cùng vật chứng là 01 thẻ nhớ (USB) do chị Trương Thị Hà L cung cấp đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiếp nhận, thụ lý theo thẩm quyền.
Đến ngày 16/6/2023, do còn lo sợ Nguyễn Minh T sẽ đăng tải đoạn video nhạy cảm trên lên mạng xã hội nên chị L đã chuyển thêm số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản V số [...] của T nhưng T vẫn tiếp tục yêu cầu chị L phải chuyển đủ số tiền 30.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 107/CT-VKSTDM ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Trường về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng và đề nghị:
a) Về trách nhiệm hình sự: Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện nội dung vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, thái độ khai báo của bị cáo và các tình tiết tăng tặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm đ, e, g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 01 năm 06 tháng đến tháng 01 năm 09 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản.
b) Xử lý vật chứng: Không
c) Về trách nhiệm dân sự: Không
Tại phiên tòa bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo không tranh luận và không tự bào chữa. Lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, xin giảm nhẹ hình phạt, hứa cải sửa bản thân và không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tổ tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ nên có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 05/6/2023, bị cáo Nguyễn Minh T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số thuê bao 0963.502.079 quay lại video quan hệ tình dục giữa bị cáo T và bị hại Trương Thị Hà L tại khách sạn K. Sau đó, từ ngày 08/6/2023 đến ngày 09/6/2023, bị cáo T nhiều lần gửi những tin nhắn và các đoạn video nhạy cảm nêu trên đến tài khoản Telegram của bị hại L để yêu cầu bị hại L phải chuyển cho bị cáo T số tiền 30.000.000 đồng nếu bị hại L không chuyển tiền, T sẽ dùng những video ghi lại hình ảnh trên để đăng tải lên trang mạng xã hội. Đối với bị hại L, do lo sợ bị cáo T sẽ phát tán video nhạy cảm nên đã 02 lần chuyển vào số tài khoản ngân hàng V1 của T tổng số tiền 3.000.000 đồng.
Nguyễn Minh T đã nhiều lần có hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần chị Trương Thị Hà L để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 02 lần với tổng số tiền 3.000.000 đồng của chị L. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
4
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần người khác để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì tham lam và xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm trọng xứng với hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội vì động cơ đê hèn, phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm đ, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 thẻ nhớ (USB) ghi lại những hình ảnh, video nhạy cảm giữa Nguyễn Minh T và chị Trương Thị Hà L do chị L cung cấp nên cần được lưu vào hồ sơ vụ án.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số thuê bao 0963.502.079, sau khi thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Minh T đã bán cho một người thu mua điện thoại cũ (không rõ nhân thân) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không đặt ra.
- Đối với số tiền 3.000.000 đồng chị Trương Thị Hà L chuyển vào tài khoản V sổ 102871277588 của Nguyễn Minh T, hiện Trường đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên và chị L không yêu cầu T bồi thường, nên Hội đồng xét xử không đặt ra.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm đ, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
5
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án phạt tù.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huỳnh Minh Trí |
Bản án số 96/2024/HSST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 96/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Nguyễn Minh Trường phạm tội Cưỡng đoạt tài sản
