Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHÓ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 04 - 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngôn và ông Đỗ Văn Kha.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đại L, tên gọi khác: Không; sinh năm: 2000, tại: Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;

Tiền án: 01;

Ngày 02/5/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đ) xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự. Chấp hành xong ngày 06/6/2021. (bút lục 202->212)

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Hoàng D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 14/10/2005, tại: Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1985 và bà Đinh Mai E, sinh năm 1983; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Ông Hồ Trường V, sinh năm 2003; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1995; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

+ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; Nơi cư trú: ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

+ Bà Đinh Mai E, sinh năm 1983; Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

+ Ông Hồ Đắc Đ, sinh năm 1972; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981; Nơi cư trú: khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

+ Ông Mai Văn T1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

+ Bà Đoàn Thị Hồng T2, sinh năm 2004; Nơi cư trú: đội A, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

+ Ông Mai Quốc H1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: đội A, ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng D: Bà Trần Thị L1, sinh năm 1985; Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2023, giữa Nguyễn Hoàng D và Hồ Trường V xảy ra mâu thuẫn với nhau nên anh V nhiều lần đến chỗ bán trái cây của D tại chợ Đ1 thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ để chửi và đòi đánh D. Đồng thời, V còn đăng bài trên mạng xã hội Facebook thách thức D. Vì vậy, D kể lại sự việc mình bị V chửi bới đe dọa đánh cho Nguyễn Đại L nghe. Sau đó, L gặp nói chuyện với V thì V tiếp tục chửi và hẹn đánh nhau với L và D.

Đến khoảng 22 giờ ngày 03/6/2023, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Vario, biển số: 93M1-348.61, màu xanh-đen chở L đi đến tượng đài C thuộc khu phố P, phường T, thành phố Đ để uống nước. Khi đi, L giấu con dao dài khoảng 50cm, vỏ bằng gỗ trong người đồng thời để bình xịt hơi cay ở hốc xe phía trước, D mang theo 04 viên pháo nổ với mục đích gặp V thì dùng để đánh nhau. Sau khi uống nước xong, D chở L đi về, khi đi đến ngã tư giao nhau giữa đường Đ và đường V thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước L phát hiện V đang ngồi chơi cùng Mai Quốc H1 và Đoàn Thị Hồng T2 tại quầy bán cá viên chiên do Lê Phi H2 làm chủ nên nói với D “Thằng Vũ kìa, quay xe lại em ơi”. Lúc này, D điều khiển xe quay lại chỗ Vũ ngồi, đồng thời L lấy con dao mang theo sẵn trong người ra và cầm theo bình xịt hơi cay. D đốt 01 quả pháo ném về phía V và nhóm bạn ngồi nên V bỏ chạy vào phía trong chợ Đ1. L xuống xe, đuổi theo và dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt V làm Vũ té xuống đường. L tiếp tục dùng tay phải cầm dao lên chém theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng đầu của V. V dùng hai tay ôm đầu thì bị L tiếp tục đưa dao lên chém theo hướng từ trên xuống một cái nữa trúng vào bàn tay trái của V. Sau khi chém xong, thấy Vũ chảy nhiều máu nên L bế V lên xe mô tô và cùng D đưa V đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để điều trị. Sau đó, L gọi điện thoại báo cho gia đình V biết rồi cùng với D bỏ trốn khỏi địa phương.

Đến ngày 25/8/2023, Nguyễn Đại L và Nguyễn Hoàng D đã đến Cơ quan Công an thành phố Đồng Xoài đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình (bút lục 40->42).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 198/KLTTCT-TTPY ngày 19/6/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận:

  1. Các kết quả chính:
    • * Kết quả khám giám định:
    • - Vết thương trán - Thái dương phải kích thước (13 x 0,2)cm còn chỉ khâu. (H1)
    • - Mỏm cụt đầu xa đốt 1 ngón III bàn tay trái còn chỉ khâu, nề nhẹ. (H2)
    • → Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới.
    • - Vết thương bàn tay trái:
    • + Mặt mu kẽ ngón III – IV kích thước (3 x 0,1)cm gọn, còn chỉ khâu. (H2)
    • + Mặt mu đốt 3 ngón IV kích thước (1,5 x 0,1)cm còn chỉ khâu. (H2)
    • Gấp, duỗi các ngón trong giới hạn bình thường.
    • → Các tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật có cạnh sắc tác động theo hướng từ mặt mu sang mặt gan tay.
    • * Kết quả cận lâm sàng:
    • - Máu tụ ngoài màng cứng thái dương – trán phải đường kính khoảng 7cm. (H3)
    • - Gãy xương sọ trán – Thái dương phải dài 5cm. (H4)
  2. 2. Kết luận:
    • - Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của HỒ TRƯỜNG VŨ tại thời điểm giám định là: 31% (Ba mươi mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
    • - Kết luận khác: Không.

Tại Bản cáo trạng số: 95/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài truy tố bị cáo Nguyễn Đại L về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Hoàng D về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 và khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội tội “Gâyrối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đại L mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58; các Điều 90; 91; 98; 101 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D mức án từ 04 năm 06 tháng đến 04 năm 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng khoản 1 Điều 318 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; các Điều 90; 91; 98; 101 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 05 năm đến 05 năm 07 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Hồ Trường V yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm số tiền 150.000.000đồng các bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho người bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 vết màu nâu đỏ nghi là máu dạng vũng đã khô bám dính trên mặt đường, đã tiến hành lấy bông tăm có thấm nước quệt vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dưới mặt đường sau đó bỏ vào tờ giấy trắng sạch hong khô và bỏ vào phong bì niêm phong;
  • - 01 bao đựng dao kích thước (42x6x1,5)cm được làm bằng gỗ, đã tiến hành dùng găng tay cầm bỏ vào bịch nylon sau đó bỏ vào túi niêm phong;
  • - 01 vết màu nâu đỏ nghi là máu dạng nhỏ giọt đã khô bám dính trên mặt đường, đã tiến hành lấy bông tăm có thấm nước quệt vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dưới mặt đường sau đó bỏ vào tờ giấy trắng sạch hong khô và bỏ vào phong bì niêm phong;
  • - 01 con dao dài 58cm có cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dài 46cm, bản dao rộng 5cm. Dùng giấy bọc xung quanh và bỏ vào thùng cát tông quấn kín.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng D tại phiên tòa thống nhất về tội danh truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo D như trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho người bị hại và người bị hại có đơn bãi nại; sau khi phạm tội đã đến Cơ Công đầu thú, khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thấp hơn mức mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Các bị cáo tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại; người làm chứng; phù hợp với kết luận điều tra, kết luận giám định, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do Nguyễn Hoàng D có mâu thuẫn với anh Hồ Trường V nên khoảng 22 giờ ngày 03/6/2023, D rủ Nguyễn Đại L đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Đ và đường V thuộc khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước tìm kiếm anh V. Tại đây, Nguyễn Hoàng D đốt pháo nổ ném về phía anh V đang ngồi uống nước cùng với anh Mai Quốc H1, chị Đoàn Thị Hồng T2 ở quán nước của anh Lê Phi H2. Đồng thời, Nguyễn Đại L và Nguyễn Hoàng D đã có hành vi dùng bình xịt hơi cay và con dao đuổi đánh và chém 02 nhát trúng vào vùng đầu và bàn tay trái của anh Hồ Trường V gây thương tích tỷ lệ là 31%.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại và trật tự an ninh tại nơi xảy ra vụ án. Như vậy, hành vi của các bị cáo thực hiện gây thương tích với tỷ lệ là 31% cho người bị hại đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra Nguyễn Hoàng D còn có hành vi đốt pháo ném vào đám đông đang ngồi ở quán nước của anh Lê Phi H2 tại chợ Đ1 sự xảy ra làm người dân xung quanh hoảng sợ, ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự tại khu vực xảy ra vụ án nên còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố.

[3] Do đây là vụ án đồng phạm nên cần phân tích, đánh giá vai trò của từng bị cáo để có cơ sở khi quyết định hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Đại L là người khởi xướng, chuẩn bị hung khí và trực tiếp gây thương tích cho người bị hại mất 31% sức khỏe, Nguyễn Hoàng D là người chở L đi tìm V để đánh nhau thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người giúp sức nên cần xét xử bị cáo L mức án cao hơn bị cáo D.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đại L đã có một tiền án ngày 02/5/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đ) xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS. Chấp hành xong ngày 06/6/2021 chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là tái phạm.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường cho người bị hại và người bị hại có đơn bãi nại; sau khi phạm tội đã đến Cơ quan Công an đầu thú nên được Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng D khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo.

[6] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Hồ Trường V yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm số tiền 150.000.000đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho người bị hại nên cần ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo Nguyễn Đại L là người trực tiếp gây thương tích cho người bị hại nên phải chịu mức bồi thường cao hơn bị cáo D.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án: Các vật chứng gồm:

  • - 01 vết màu nâu đỏ nghi là máu dạng vũng đã khô bám dính trên mặt đường, đã tiến hành lấy bông tăm có thấm nước quệt vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dưới mặt đường sau đó bỏ vào tờ giấy trắng sạch hong khô và bỏ vào phong bì niêm phong;
  • - 01 bao đựng dao kích thước (42x6x1,5)cm được làm bằng gỗ, đã tiến hành dùng găng tay cầm bỏ vào bịch nylon sau đó bỏ vào túi niêm phong;
  • - 01 vết màu nâu đỏ nghi là máu dạng nhỏ giọt đã khô bám dính trên mặt đường, đã tiến hành lấy bông tăm có thấm nước quệt vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dưới mặt đường sau đó bỏ vào tờ giấy trắng sạch hong khô và bỏ vào phong bì niêm phong;
  • - 01 con dao dài 58cm có cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dài 46cm, bản dao rộng 5cm. Dùng giấy bọc xung quanh và bỏ vào thùng cát tông quấn kín.

Các vật chứng trên không có giá trị sử dụng cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

[9] Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng D về các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo D là có căn cứ nên được chấp nhận.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa về hình phạt và áp dụng pháp luật là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về điều luật và mức hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2023.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 17, 50, 38, 58, 90, 91, 98, 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng khoản 1 Điều 318 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 50; 38; 90; 91; 98; 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ các Điều 584; 585; 587; 590 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Đại L phải bồi thường cho anh Hồ Trường V 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng). Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng D phải bồi thường cho anh Hồ Trường V 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 vết màu nâu đỏ nghi là máu dạng vũng đã khô bám dính trên mặt đường, đã tiến hành lấy bông tăm có thấm nước quệt vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dưới mặt đường sau đó bỏ vào tờ giấy trắng sạch hong khô và bỏ vào phong bì niêm phong;
  • - 01 bao đựng dao kích thước (42x6x1,5)cm được làm bằng gỗ, đã tiến hành dùng găng tay cầm bỏ vào bịch nylon sau đó bỏ vào túi niêm phong;
  • - 01 vết màu nâu đỏ nghi là máu dạng nhỏ giọt đã khô bám dính trên mặt đường, đã tiến hành lấy bông tăm có thấm nước quệt vết màu nâu đỏ (nghi là máu) dưới mặt đường sau đó bỏ vào tờ giấy trắng sạch hong khô và bỏ vào phong bì niêm phong;
  • - 01 con dao dài 58cm có cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dài 46cm, bản dao rộng 5cm. Dùng giấy bọc xung quanh và bỏ vào thùng cát tông quấn kín.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0002243, quyền số 0045, ký hiệu D47/2017 ngày 15/04/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước).

5. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đại L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Hoàng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS thành phố Đồng Xoài;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước.
  • - CA thành phố Đồng Xoài;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh BP;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS-VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Hùng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger