|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-7-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Công Điện
Ông Bùi Văn Phục
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Có mặt
Bị đơn: Anh Lương Thành L, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị Nguyễn Thị Ngọc H và anh Lương Thành L tự nguyện kết hôn năm 2019 và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì cả hai phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nên hay xảy ra tranh cải, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân cho đến nay. Do mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Ngọc H xin ly hôn với anh Lương Thành L; Về con chung, có một con chung cháu Lương Ngọc Lam C, sinh ngày 06/5/2020 (giới tính nữ), khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung không có.
Bị đơn anh Lương Thành L được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày trong vụ kiện.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn được triệu tập đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị H và bị đơn anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên hôn nhân được pháp luật công nhận là vợ chồng. Khi mâu thuẫn xảy ra không thể hàn gắn được nên nguyên đơn chị H xin ly hôn với bị đơn anh L. Để tạo điều kiện cho nguyên đơn chị H và bị đơn anh L hàn gắn hôn nhân, Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Nguyên đơn chị H vẫn giữ yêu cầu ly hôn với bị đơn anh L, chị xác định không còn tình cảm với bị đơn anh L, dù đã cho cơ hội hàn gắn hôn nhân nhưng không thành dẫn đến ly thân từ năm 2023 đến nay. Trong khi đó, bị đơn anh L được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng vắng mặt từ đó cho thấy bị đơn anh L cũng không mong muốn hòa giải mâu thuẫn để nguyên đơn chị H thay đổi ý kiến. Xét quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn chị H và bị đơn anh L mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với bị đơn anh Lương Thành L được chấp nhận.
[4] Về con chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H thừa nhận có một con chung với anh Lương Thành L là cháu Lương Ngọc Lam C, sinh ngày 06/5/2020 (giới tính nữ) và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Bên cạnh đó, bị đơn anh Lương Thành L không có văn bản ý kiến về nuôi con chung từ đó cho thấy anh L không còn quan tâm gia đình cũng như con chung với chị H. Từ khi ly thân đến nay cháu C được chị H nuôi dưỡng và chưa có chứng cứ thể hiện chị H vi phạm nghĩa vụ nuôi con chung. Từ những nhận định nêu trên yêu cầu nuôi con chung của chị H có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144 và Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 81, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H
- Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với bị đơn anh Lương Thành L.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lương Ngọc Lam C, sinh ngày 06/5/2020 (giới tính nữ). Anh Lương Thành L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Lương Thành L, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006355 ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp thành án phí.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hiếu |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 2001; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Có mặt Bị đơn: Anh Lương Thành L, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt
