TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 03 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Minh
2. Ông Võ Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Văn N, sinh năm 1959; nơi cư trú: Ấp C, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha Hồ Văn N1 (đã chết); mẹ Nguyễn Thị B (đã chết); V: Nguyễn Thị Thu V1; Con: 04 người; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/02/2024 đến nay tại xã L, thành phố C. Bị cáo tại ngoại có mặt.
- Bị hại: Ông Châu Văn Á, sinh năm 1978
Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Á: Ông Châu Thành L, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Ấp C, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Châu Văn Á, sinh năm 1978, trú tại ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau được em ruột là ông Châu Thành L thuê trông coi ruộng dưa hấu tại ấp C, xã L, thành phố C. Khoảng 08 giờ ngày 28/11/2023, ông Á để điện thoại hiệu Oppo A57, màu xanh có gắn ốp lưng da màu nâu trong túi quần dài treo trên vách chòi canh ruộng rồi đi ra ruộng dưa hấu cách chòi khoảng 40m để cuốc đất. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, ông Á quay lại chòi thì phát hiện điện thoại bị mất nên cho ông L biết và ông Lập trình báo Công an xã L. Lực lượng Công an đã xác minh và trích xuất 01 đoạn video từ camera của nhà ông Phan Chí H, sinh năm 1990, trú tại ấp C, xã L, thành phố C ghi lại hình ảnh vụ án thời lượng 03 phút 08 giây.
Qua điều tra xác định, khoảng 09 giờ ngày 28/11/2023, Hồ Văn N đi ruộng về ngang chòi của ông L, thấy xung quanh không có ai nên N đi vào trong chòi tìm tài sản để lấy trộm. Khi thấy quần của ông Á treo trên vách, bị can đến cho tay vào trong túi quần tìm kiếm tài sản thì phát hiện điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh gắn ốp lưng da màu nâu của ông Á và lấy điện thoại ra khỏi túi cầm trên tay đi về nhà cất trên đầu tủ trong phòng bị can.
Ngày 29/11/2023, bị can N giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh có gắn bao da màu nâu đã trộm được của ông Châu Văn Á. Ngày 30/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cho bị can Nhạn quan sát hình ảnh từ đoạn video trích xuất, bị can N xác định người đàn ông mặc quần ngắn, áo ngắn tay màu sáng, đội nón đi vào trong chòi và lấy trộm điện thoại của ông Á chính là bị can Nhạn, điện thoại di động bị can Nhạn giao nộp chính là điện thoại đã trộm của ông Á.
Tại Kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 128GB màu xanh, đã qua sử dụng vào thời điểm ngày 28/11/2023 có giá trị còn lại là 4.016.250đồng.
Đối với ốp lưng da màu nâu, ông Á được người quen cho đã lâu, đến nay không còn nhớ người cho, thời gian nào, giá trị bao nhiêu, ốp lưng đã cũ và ông Á không có yêu cầu gì.
Vật chứng tạm giữ và xử lý trong vụ án:
- + 01 đĩa DVD chứa đoạn video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ án được lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh và 01 ốp lưng da màu nâu là tài sản của ông Châu văn Á1 nên ngày 03/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho ông Á.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Châu Văn Á đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Hồ Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, 65 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Hồ Văn N từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn N khai nhận: Vào khoảng 09 giờ ngày 28/11/2023, tại ấp C, xã L, thành phố C, Hồ Văn N đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh, đã qua sử dụng, trị giá là 4.016.000 đồng của ông Châu Văn Á mang về nhà nhằm mục đích sử dụng.
Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức và biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn hưởng lợi nên bị cáo cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vợ bị cáo là người có công với cách mạng được Chính uỷ Quân khu 9 quyết định về việc trợ cấp một lần đối với đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ theo Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ, phía bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, là người có nhân thân tốt, không tiền án, không tiền sự nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo trong môi trường hoà nhập cộng đồng, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Như thế vẫn đảm bảo tính giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[4] Với đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được xem xét chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 màu xanh và 01 ốp lưng da màu nâu là tài sản của ông Châu Văn Á nên ngày 03/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho ông Á nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Đối với 01 đĩa DVD chứa đoạn video trích xuất từ camera ghi lại diễn biến vụ án được điều tra viên ký niêm phong lưu kèm theo hồ sơ vụ án nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Hồ Văn N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Hồ Văn N 01 (Một) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Văn Nh trộm cắp tài sản
