|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-8-2024. V/v tranh chấp về ly hôn và con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ánh Nhạn;
- Bà Trần Thị Đào.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2024/TLST-HN ngày 21 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Thanh C, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1986.
Địa chỉ: A, khu phố A, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30 tháng 11 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Thanh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị M chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ngày 31/12/2009. Sau khi cưới vợ chồng chung sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh chị chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, chị M bỏ về khu phố A, thị trấn G, huyện G, Tây Ninh sống cho đến nay, nguyên nhân là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ nhau nhiều lần, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, cùng thời gian đó anh và chị M sống ly thân với nhau cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị cũng không gặp nhau hòa giải hàn gắn gia đình được. Nên nay nhận thấy không thể sống chung được nữa nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc M.
Về con chung: Anh và chị M có 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 20/12/2009 và Lê Thanh N1, sinh ngày 03/01/2013, hiện tại con chung đang sống với anh. Nay ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Đối với bị đơn – chị Trần Thị Ngọc M:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý, thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng chị M không đến để trình bày theo yêu cầu của Tòa án cũng như không tham dự phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử mặc dù qua xác minh, chính quyền địa phương và người nhà chị M cung cấp chị vẫn còn hộ khẩu ở địa phương nhưng cố tình vắng mặt không lý do. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn anh Lê Thanh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là chị Trần Thị Ngọc M đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C, chị M là đúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thanh C, cho anh C được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc M. Về con chung: Áp dụng Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 giao 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 20/12/2009 và Lê Thanh N1, sinh ngày 03/01/2013 cho anh C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, anh C không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung: Anh C trình bày không có nên không đặt ra giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 anh C phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Lê Thanh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Trần Thị Ngọc M được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C, chị M theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thanh C và chị Trần Thị Ngọc M trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện P, tỉnh Bình Định ngày 31/12/2009 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo đơn khởi kiện anh C trình bày mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ nhau nhiều lần, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, anh chị sống ly thân với nhau từ năm 2013 cho đến nay. Từ ngày ly thân đến nay, cả hai cũng không hòa giải, hàn gắn gia đình được. Mặt khác, chị M không chấp hành theo giấy triệu tập của tòa án, cố tình vắng mặt không đến, điều đó chứng tỏ chị không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh C. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, anh C được ly hôn với chị M là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh Lê Thanh C và chị Trần Thị Ngọc M có 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 20/12/2009 và Lê Thanh N1, sinh ngày 03/01/2013, hiện tại con chung đang sống với anh C. Khi ly hôn, anh C yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện tại hai cháu N và N1 đang sống chung với anh C. Mặt khác, qua làm việc hai cháu có nguyện vọng muốn được sống chung với anh C. Do vậy, cần giao 02 cháu N và N1 cho anh C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, anh C không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung do vậy nên ghi nhận.
Chị Trần Thị Ngọc M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung: Anh Lê Thanh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung: Anh Lê Thanh C trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: Anh Lê Thanh C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Thanh C với chị Trần Thị Ngọc M.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Ngọc Quỳnh N, sinh ngày 20/12/2009 và Lê Thanh N1, sinh ngày 03/01/2013 cho anh Lê Thanh C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Trần Thị Ngọc M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Q không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Anh Lê Thanh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Lê Thanh C trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Thanh C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0013681 ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Anh Lê Thanh C đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
Anh Lê Thanh C được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc M.
Chị Trần Thị Ngọc M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Chị Trần Thị Ngọc M không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Anh C, chị M có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Vân |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn và con chung
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
