Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày: 01-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Phước, ông Đỗ Ngọc Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Dương Sanh H, sinh năm 1973 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. SĐT: 0332.772.xxx
  • - Bị đơn: Ông Phan Hồng S, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị Kim H1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Ngày 06/02/2023, ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 có vay của ông số tiền 30.000.000 đồng; có làm biên nhận có chữ ký xác nhận của ông SH1; thỏa thuận lãi suất 20%/năm. Sau khi vay, ông SH1 không đóng lãi như thỏa thuận dù ông H nhiều lần nhắc nhở và đến nay cũng không trả vốn. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Phan Hồng S, bà Phạm Thị Kim H1 có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 06/02/2023 đến khi xét xử theo mức lãi suất 20%/năm.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông SH1 vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông bà cũng như không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 trả tiền nợ gốc 30.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ 06/02/2023 đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất 20%/năm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Sanh H, buộc ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 trả tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 20%/năm từ ngày 06/02/2023 đến khi thanh toán xong.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Ông Dương Sanh H khởi kiện yêu cầu ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 trả tiền vay, vì vậy quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý vụ án dân sự và giải quyết là đúng quy định tại Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn là ông Phan Hồng S, bà Phạm Thị Kim H1 vắng mặt không lý do; đồng thời, ông SH1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, ông SH1 đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét nội dung tranh chấp:

[2.1] Về đánh giá chứng cứ: Ông Phan Hồng S, bà Phạm Thị Kim H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án hoặc có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Dương Sanh H và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để thể hiện việc phản bác hay chấp nhận đối với yêu cầu của ông H. Vì vậy, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án.

[2.2] Xét chứng cứ là Hợp đồng vay tiền đề ngày 06/02/2023 do nguyên đơn giao nộp thể hiện nội dung ông Phan Hồng S và vợ là Phạm Thị Kim H1 có vay của ông Dương Sanh H số tiền 30.000.000 đồng; thỏa thuận lãi suất 20%/năm; hẹn đến ngày 07/6/2023 thanh toán; ông SH1 có ký tên xác nhận bên vay tiền.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo cho ông SH1 biết về nội dung khởi kiện và mở các phiên họp để hai bên thỏa thuận nhưng ông SH1 vắng mặt không lý do và không có ý kiến phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp có đủ cơ sở xác định ông SH1 có vay của ông H số tiền 30.000.000 đồng nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, ông Phan Hồng S, bà Phạm Thị Kim H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Dương Sanh H số tiền vay là 30.000.000 đồng.

[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi: Do ông SH1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật. Căn cứ Hợp đồng vay tiền hai bên có thỏa thuận lãi suất là 20%/năm là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên yêu cầu lãi suất của ông H là có cơ sở chấp nhận. Thời gian tính lãi từ ngày vay (06/02/2023 đến khi Tòa án xét xử (01/8/2024) là 01 năm 5 tháng 27 ngày. Tiền lãi được tính như sau:

30.000.000 đồng x 20%/năm x 01 năm 5 tháng 27 ngày = 8.950.000 đồng

đồng

Như vậy, ông SH1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông H tiền nợ gốc và lãi là 38.950.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Các đương sự không phải chịu chi phí tố tụng khác.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 227, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 463, 466 và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Dương Sanh H.

Buộc bị đơn là ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Dương Sanh H số tiền 38.950.000 (Ba mươi tám triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng. Trong đó: Nợ gốc là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng và tiền lãi là 8.950.000 (Tám triệu chín trăm năm mươi) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thanh toán xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Ông Phan Hồng S và bà Phạm Thị Kim H1 phải chịu 1.947.500 (Một triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng tiền án phí sơ thẩm. Ông Dương Sanh H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013863 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự không phải chịu chi phí tố tụng khác.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger