|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST
Ngày 01-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Lệ Hoa
Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2024/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 1981 (có mặt)
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã T, T, Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Hồng N trình bày:
Chị N và anh Đ tự nguyện chung sống và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 21/8/2007. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cải nhau, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã ly thân với nhau khoảng 02 tháng nay, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần để anh chị đoàn tụ nhưng không thành, chị N xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh Đ không thể kéo dài nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là Huỳnh Thị D, sinh ngày 26/6/2000, Huỳnh Thị N1, sinh ngày 01/02/2004 và Huỳnh An sinh ngày 06/10/2010.
Cháu D và N1 đã có gia đình sống riêng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu A, chị yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.170.000 đồng, cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi..
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp cho anh Huỳnh Văn Đ nhưng anh không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chị N yêu cầu ly hôn với anh Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị N và anh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, chị N và anh Đ đã ly thân với nhau hơn khoảng 02 tháng nay, gia đình hai bên có hàn gắn nhiều lần để anh chị đoàn tụ nhưng không thành, chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đ. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con của chị N thấy rằng cháu A đang chung sống ổn định với chị N. Anh Đ không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị N, giao cháu A cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị N thấy rằng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình quy định thì anh Đ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng với số tiền là 1.170.000 đồng (một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng), cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (01/7/2024) cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với cháu D và N1 đã có gia đình sống riêng chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Kể từ ngày chị N có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Đ chậm thực hiện khoảng tiền cấp dưỡng nói trên thì anh Đ phải chịu lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành, mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị N phải chịu số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị N đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp. Về án phí cấp dưỡng nuôi con anh Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và Điều 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Hồng N và anh Huỳnh Văn Đ được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Huỳnh An sinh ngày 06/10/2010 cho chị Nguyễn Hồng N tiếp tục nuôi dưỡng. Buộc anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng với số tiền là 1.170.000 đồng (một triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng), cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm (01/7/2024) cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Anh Đ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Kể từ ngày chị N có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Đ chậm thực hiện khoảng tiền cấp dưỡng nói trên thì anh Đ phải chịu lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành, mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Hồng N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 13/5/2024 chị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0016192 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.
Án phí cấp dưỡng nuôi con Anh Huỳnh Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, anh Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Quốc Văn |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Hồng Nhiên và anh Huỳnh Văn Đấu được ly hôn.
