Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/LD-ST

Ngày: 16/4/2025

V/v: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Cao Quốc Hưng
  • : Bà Nguyễn Hương Thủy
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án lao động thụ lý số 254/2024/TLST- LĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1558/2025/QĐXXST-LĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2463/2025/QĐST-LĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc H1 và bà Dương Thị T (theo Giấy ủy quyền ngày 24/4/2024).

Bị đơn: Công ty TNHH I;

Trụ sở: Phòng 5.09, Lầu E, Tòa nhà S, Số A P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Victor Ching B.

Địa chỉ: E H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Ông Vũ Ngọc H1 và bà Dương Thị T có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 02/4/2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Phan Thị H có người đại diện theo ủy quyền - ông Vũ Ngọc H1 và bà Dương Thị T trình bày:

Từ ngày 23/02/2022, bà H được tuyển dụng vào làm việc cho Công ty TNHH I (sau đây gọi là Công ty). Quá trình làm việc tại Công ty, giữa bà H và Công ty có giao kết hợp đồng lao động số 01481/HDLD-INX ngày 01/07/2022, thời hạn hợp đồng 01 năm. Công việc của bà H: Công nhân; Mức lương đóng Bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) trước khi nghỉ việc: 5.258.000 đồng/tháng.

Ngày 14/4/2023, căn cứ vào thỏa thuận chấm dứt hợp đồng với người lao động, Công ty TNHH I ban hành quyết định thôi việc số 001481/QĐTV, cho bà H nghỉ việc kể từ ngày 14/3/2023. Quá trình làm việc, hàng tháng Công ty đều trừ lương của bà H để tham gia các loại bảo hiểm theo quy định gồm Bảo hiểm xã hội 8% (BHXH), Bảo hiểm Y tế 1,5% (BHYT) và Bảo hiểm thất nghiệp 1% (BHTN). Sau khi nghỉ việc, bà H nhiều lần liên hệ để yêu cầu chốt sổ bảo hiểm xã hội nhưng Công ty không giải quyết. Ngày 12/3/2024, bà H đến cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện X để kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm xã hội thì biết: Thời gian từ tháng 8/2022 đến tháng 02/2023, Công ty chỉ đóng bảo hiểm thất nghiệp, chưa đóng bảo hiểm xã hội, chưa xác nhận hết quá trình tham gia bảo hiểm xã hội cho bà H theo quy định của pháp luật. Bà H đã nhiều lần liên hệ yêu cầu công ty đóng bảo hiểm xã hội và xác nhận quá trình tham gia bảo hiểm cho bà H nhưng công ty không giải quyết.

Nhận thấy việc Công ty TNHH I hàng tháng đều trừ tiền lương của bà H để tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đóng cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, không xác nhận hết thời gian tham gia bảo hiểm xã hội cho bà H là không đúng quy định của pháp luật.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xem xét giải quyết: Buộc Công ty TNHH I phải đóng bảo hiểm xã hội cho bà H từ tháng 08/2022 đến tháng 02/2023. Xác nhận thời gian đóng bảo hiểm cho bà H theo quy định pháp luật.

Bị đơn Công ty TNHH I vắng mặt, nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thu thập được ý kiến trình bày và các tài liệu, chứng cứ do Công ty TNHH I giao nộp.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn - bà Phan Thị H khởi kiện bị đơn Công ty TNHH I về “Tranh chấp về bảo hiểm xã hội”. Bà H và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động số 01481/HDLD-INX ngày 01/07/2022, thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động theo Quyết định thôi việc số 001481/QĐTV ngày 14/4/2024. Bà H không khởi kiện về việc chấm dứt hợp đồng lao động mà chỉ tranh chấp tiền bảo hiểm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần phải giải quyết là: “Tranh chấp về Bảo hiểm xã hội”.

[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bà Phan Thị H khởi kiện tranh chấp về BHXH đối với Công ty TNHH I, có nội dung phù hợp pháp luật, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có trụ sở hoạt động tại thành phố T nên căn cứ tại điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về tố tụng và phạm vi giải quyết vụ án:

- Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH I vắng mặt không có lý do, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty TNHH I. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Xét trách nhiệm đóng các khoản bảo hiểm của Công ty TNHH I và người lao động không thuộc trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận hợp đồng, mà thuộc trách nhiệm theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội nên xét không cần thiết phải tiến hành hòa giải và không cần thiết phải đưa Bảo hiểm xã hội huyện X vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án;

- Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019 thì tranh chấp về tiền bảo hiểm xã hội không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải cơ sở. Ngày 14/4/2023, Công ty TNHH I ban hành Quyết định thôi việc số 001481/QĐTV cho bà H nghỉ việc. Ngày 12/3/2024, Bảo hiểm xã hội huyện X xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho bà H và xác định Công ty TNHH I chưa nộp đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội đối với bà H. Ngày 08/4/2024, bà H nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Tại khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân như sau: “Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Như vậy, đơn khởi kiện của bà H còn trong thời hiệu khởi kiện.

[3] Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

[3.1] Nguyên đơn trình bày: Giữa bà H và Công ty TNHH I có giao kết hợp đồng lao động số 01481/HDLD-INX ngày 01/07/2022 với thời hạn 01 năm. Ngày 14/3/2024, Công ty và bà H thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động, ngày 14/4/2023, Công ty ban hành Quyết định thôi việc số 001481/QĐTV. Trong quyết định thôi việc có thể hiện: “nghỉ việc kể từ ngày 14/3/2023”. Do đó, có cơ sở xác định giữa bà H và Công ty TNHH I có thỏa thuận giao kết hợp đồng lao động có xác định thời hạn. Ngoài ra, các bên cũng thỏa thuận việc chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 34 Bộ luật Lao động.

[3.2] Đối với việc nguyên đơn yêu cầu đóng đầy đủ từ tháng 08/2022 đến tháng 02/2023 và thực hiện xác nhận quá trình đóng bảo hiệm xã hội cho cho bà Phan Thị H theo luật định, hội đồng xét xử xét:

Căn cứ theo Bản ghi quá trình đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của bà Phan Thị H (Mã số BHXH: 7526857765) ngày 12/3/2024 và Công văn số 58/BHXH ngày 24/3/2025 của BHXH huyện X cung cấp, thể hiện: “Công ty TNHH I đã không đóng bảo hiểm xã hội cho bà H từ tháng 8/2022 – 02/2023". Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 21; khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động, có nội dung: “Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hàng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội” và “Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động... trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật”. Do đó, trách nhiệm của người sử dụng lao động là phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định và hàng tháng trích từ tiền lương, tiền công của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Từ các căn cứ trên, Công ty TNHH I đã có lỗi trong việc không thực hiện đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm, nên xét thấy yêu cầu của bà H buộc Công ty TNHH I phải đóng BHXH cho bà H tại BHXH huyện X từ tháng 08/2022 đến tháng 02/2023 và thực hiện xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho cho bà Phan Thị H là có cơ sở chấp nhận.

[4] Đối với nội dung phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

[5] Về án phí lao động sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điểm d khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 188, khoản 1 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;
  • - Căn cứ Khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 89 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; khoản 1 Điều 44 Luật Việc làm năm 2013;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

    Buộc Công ty TNHH I có trách nhiệm đóng tiền bảo hiểm xã hội cho bà Phan Thị H từ tháng 08/2022 đến tháng 02/2023 tại bảo hiểm xã hội huyện X và thực hiện xác nhận quá trình đóng bảo hiểm xã hội cho cho bà Phan Thị H theo luật định;

  2. Về án phí: Công ty TNHH I phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty TNHH I chưa nộp án phí.
  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - TAND TP HCM;
  • - Lưu VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/LD-ST ngày 16/04/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp về bảo hiểm xã hội

  • Số bản án: 96/2025/LD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Hằng, Công ty TNHH Innolux Footwear Việt Nam - Tranh chấp về bảo hiểm xã hội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger