|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HSST Ngày: 21-3-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Bính .
- 2/ Ông Nguyễn Văn Đô.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025, đối với bị cáo:
THÁI VĂN TRƯỜNG; Sinh năm 1992 tại tỉnh Đắk Lắk
- Nơi thường trú: thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.Chỗ ở hiện nay: Căn hộ A, chung cư T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam.Quốc tịch: Việt Nam.Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; Con ông Thái Văn T1, sinh năm 1969 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1968.Vợ: Lê Thanh V, sinh năm 2001.Con: Có 01 người, sinh năm 2022.Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt giữ khẩn cấp từ ngày 19/4/2024, hiện đang tạm giam tại Phân trại Khu vực tạm giam thành phố P.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
*Những người tham gia tố tụng khác:
-Người bị hại:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972, Địa chỉ thường trú: Số F, đường T thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do vay mượn tiền của nhiều người mất khả năng trả nợ nên vào rạng sáng ngày 18/4/2024, Thái Văn T3 đón xe khách từ tỉnh Bình Dương đến thành phố P, tỉnh Bình Thuận mục đích tìm các tiệm vàng sơ hở để chiếm đoạt vàng lấy tiền trả nợ. Tại đây, T3 đăng ký lưu trú bằng căn cước công dân tên Lê Hoàng A,sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, (do T3 nhặt được tại tỉnh Bình Dương), tại phòng số 103 của nhà nghỉ Y ở khu phố C, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Đến 08 giờ cùng ngày, T3 thuê xe mô tô hiệu AirBlade biển số 86C1-071.30 của nhà nghỉ Y, mang theo 01 giỏ xách (bên trong có 01 bình xịt hơi cay và 01 cuộn băng keo màu đen mà T3 đặt mua trước đó) rồi điều khiển xe mô tô trên chạy vòng quanh thành phố P để quan sát các tiệm vàng. Khi đến tiệm V3 số F đường T thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố P, do bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1972) làm chủ, T3 thấy tiệm vắng khách nên T3 chọn địa điểm này để chiếm đoạt vàng. T3 điểu khiển xe mô tô hiệu AirBlade biển số 86C1-071.30 về lại nhà nghỉ Y trả lại xe mô tô trên, rồi T3 thuê lại xe mô tô hiệu Vision biển số 59Y1-198.91 của nhà nghỉ Y.
Tiếp đến, T3 đeo khẩu trang che mặt, mang theo 01 giỏ xách (bên trong có 01 bình xịt hơi cay và 01 cuộn băng keo màu đen mà T3 đặt mua trước đó), điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-198.91 đến xã T. Tại đây, T3 dùng băng keo màu đen dán biển số xe thành biển số 59Y1-188.91.
Đến khoảng 16 giờ 10 phút ngày 18/4/2024, T3 điều khiển xe mô tô 59Y1-188.91 đến dựng trước cửa tiệm V3, vào bên trong tiệm gặp bà L hỏi mua vàng cưới. T3 bảo bà L lấy số vàng gồm: 01 chiếc lắc có hình bông mai; 01 đôi bông tai hình bông mai; 01 sợi dây chuyền có mặt hình bông mai; 02 cái còng; 01 sợi dây chuyền có mặt đính đá rồi yêu cầu bà L bỏ số vàng trên vào 01 bịch nylon màu đen. Bà L báo giá 153.000.000 đồng thì T3 đồng ý mua. T3 cầm bịch nylon chứa vàng ra cất vào cốp xe mô tô 59Y1-198.91 rồi quan sát thì thấy bà L cùng ông Nguyễn Quang V1 (sinh năm 1971, chồng bà L) vẫn từ trong tiệm nhìn theo, nên Trường quay lại vào tiệm vàng, mở giỏ xách, lấy bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mặt bà L, ông V1 và khách đang mua vàng rồi T3 bỏ chạy ra nơi để xe mô tô biển số 59Y1-188.91 và làm rơi bình xịt hơi cay trước tiệm. Khi T3 đang nổ máy xe mô tô 59Y1-188.91 nhằm tẩu thoát thì bà L chạy theo ra, dùng tay kéo giữ xe mô tô 59Y1-188.91 lại thì T3 tăng mạnh ga xe mô tô trên để tẩu thoát làm bà L té xuống đường.
Khi về đến khu vực gần chung cư P, T3 thay quần áo, tháo băng keo đã dán biển số xe mô tô 59Y1-198.91 rồi điều khiển xe mô tô này về nhà nghỉ Y trả xe, trả phòng, đón xe khách từ thành phố P về căn hộ S thuộc chung cư R ở phường V, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T3 cất giấu 01 chiếc lắc có hình bông mai; 01 đôi bông tai hình bông mai; 02 cái còng; 01 sợi dây chuyền có mặt đính đá. Đối với 01 sợi dây chuyển có mặt hình bông mai, trọng lượng 05 chỉ, loại vàng 98%, T3 đem đến cơ sở vàng bạc Tuấn Kim L1 tại phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương do Trần Văn T4 (sinh năm 1976) làm chủ để bán. Ông T4 đồng ý mua với giá 35.400.000 đồng. Sau khi mua sợi dây chuyền trên, ông T4 gia công thành vàng cục và bán cho khách hàng. Nhận được tiền bán vàng, T3 mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax giá 29.000.000 đồng, số tiền còn lại T3 tiêu xài hết.
Qua truy xét, ngày 19/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Công an phường V, thành phố D, tỉnh Bình Dương bắt giữ Thái Văn T3 tại căn hộ A, đồng thời đưa T3 và thu giữ các vật chứng có liên quan về trụ sở Công an thành phố P làm việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 148 ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận đối với số nữ trang T3 chiếm đoạt trong vụ án, đã kết luận :
Đối với số nữ trang bằng vàng 24K, có hàm lượng vàng 98,19%, nữ trang bằng vàng 18K, có hàm lượng vàng 61,53%, Tổng giá trị tài sản là 184.643.960 đồng.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 634 ngày 30/7/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của bà Nguyễn Thị L tại thời điểm giám định: 1%.
Tại Kết luận giám định số 958 ngày 16/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Căn cước công dân số [...] là thật.
Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSPT-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Thái văn T3 phạm tội “Cướp tài sản”, thuộc các trường hợp định khung hình phạt: “Sử dụng hung khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai, đã nêu đúng và đầy đủ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện trong vụ án.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
*Áp dụng quy định tại: điểm d, đ khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 01, khoản 02 điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Thái Văn T3 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng : Căn cứ quy định tại điểm a, khoản 01 điều 46, điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Đề nghị :
- -Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN có chiều cao 23cm, đường kính 6cm.
- -T5 giao trả lại cho Thái Văn T3 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, số IMEI 350492193499337.
Lời nói sau cùng bị cáo trình bày: mong Hội đồng xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, bị cáo rất ân hận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 16 h 10’ngày 18/4/2024 Thái Văn T3 đến tiệm V3 số 693, đường T thuộc khu phố C, phường Đ, thành phố P do bà Nguyễn Thị L làm chủ. Tại đây nhằm mục đích tiếp cận tài sản để chiếm đoạt, Thái Văn T3 giả vờ hỏi mua nữ trang cưới, với tổng trị giá là 184.643.960 đồng; Khi bà Nguyễn Thị L đưa số nữ trang trên cho T3, T3 chưa trả tiền nhưng đã đem số vàng trên bỏ vào cốp xe mô tô, lúc này chủ tiệm vàng là bà L và ông V1 vẫn còn đang quan sát T3, tài sản vẫn còn trong tầm quản lý kiểm soát của họ.
Tuy nhiên để đạt được mục đích chiếm đoạt thành công tài sản, T3 đã dùng bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mặt bà L, ông Nguyễn Quang V1 (là chồng của bà L) và khách đang mua vàng, rồi leo lên xe tẩu thoát bà L cố gắng chạy theo kéo xe T3 lại, thì T3 tăng ga tẩu thoát khiến bà L bị té xây sát tỷ lệ thương tích 01%.
Hành vi nêu trên của Thái Văn T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, thuộc tình tiết định khung hình phạt “Sử dụng hung khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng Viện kiểm sát thành phố P truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với hành vi gây thương tích 01% do Thái Văn T3 thực hiện trong vụ án, bà L không yêu cầu xử lý hình sự và bồi thường tiền điều trị thương tích.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có trình độ học vấn nhất định, có bằng cử nhân kinh kế, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự.
Xét tính chât mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo phạm tội có kế hoạch và có chuẩn bị sắp xếp tính toán trước, từ việc chuẩn bị dụng cụ mua bình xịt hơi cay, chọn địa điểm gây án và phương án tẩu thoát, đồng thời thực hiện hành vi cướp tài sản giữa ban ngày, ngay khu vực đông dân cư sinh sống và nhiều phương tiện lưu thông qua lại. Hành vi rất táo bạo liều lĩnh, xem thường luật pháp, xem thường tính mạng sức khỏe người khác, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, do vậy cần thiết phải xử lý nghiêm để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm;
[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình bồi thường tài sản cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, do vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[5]Về phần bồi thường dân sự:
Bị hại Nguyễn Thị L2 đã được cơ quan điều tra thu giữ và giao trả lại toàn bộ tài sản đã bị cáo chiếm đoạt trong vụ án, đồng thời đã được gia đình bị cáo bồi thường trị giá tài sản không thu hồi được, hiện không yêu cầu về bồi thường dân sự, do vậy Hội đồng xét xử không xét.
[6]Xử lý vật chứng:
Đối với 01 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN có chiều cao 23cm, đường kính 6cm là công cụ hỗ trợ được nhà nước quy định chỉ dùng cho lực lượng chuyên trách sử dụng, đây vật cấm lưu hành, do vậy sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a, khoản 01 điều 46, điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, số IMEI 350492193499337, thu giữ của bị cáo, nhưng hiện bị cáo đã khắc phục bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại, do vậy sẽ giao trả lại cho bị cáo Thái Văn T3.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, và điểm a khoản 01 Điều 23 và khoản 01 Phần I biểu A của danh mục kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ vào điểm d, đ khoản 02 điều 168, điểm b, s khoản 01, khoản 02 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2] Tuyên bố bị cáo Thái Văn T3 phạm tội “Cướp tài sản”.
[3] Xử phạt: Bị cáo Thái văn T3 07 (B) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 19/4/2024.
[4] Xử lý vật chứng:
Căn cứ quy định tại điểm a, khoản 01 điều 46, điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- -Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bình xịt hơi cay hiệu TAKE DOWN có chiều cao 23cm, đường kính 6cm.
- -T5 giao trả lại cho Thái Văn T3 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, số IMEI 350492193499337.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 114 ngày17/02/2025 và biên bản số 24 ngày 13/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận).
[4] Về án phí: Bị cáo Thái Văn T3 phải nộp phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm Hình sự;
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Quyền kháng cáo bản án của người bị hại là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
* Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T - Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ N XUÂN |
Bản án số 96/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cướp tài sản
- Số bản án: 96/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Văn Tr phạm tội theo quy định tại khoản 02 điều 168 Bộ luật Hình sự
