|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 96/2025/HSST Ngày: 09 – 4 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông: Lê Hữu Luân;
2/ Ông: Phạm Văn Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình An – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Đức D, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Nhà số E đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà số D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn H và con bà Nguyễn Thị Thanh V; chưa có vợ con. Tiền án: Ngày 20/11/2024, bị Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo bản án số 236/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/05/2020, đã đóng án phí, chưa chấp hành: nộp phạt 9.500.000 đồng và nộp lại thu lợi bất chính 300.000 đồng. Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trần Quang T, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: 9 hẻm A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02/2024, Phạm Đức D là bảo vệ chung cư W địa chỉ số G đường N, Phường B, quận B, D được phân công tuần tra và sắp xếp xe tại hầm gửi xe của chung cư, tại đây D phát hiện xe mô tô hiệu Honda Blade biển số 73B1-222.81 của ông Trần Quang T là cư dân trong chung cư giống với đặc điểm xe mô tô biển số 69K1-152.00 hiệu Honda Blade mà D đang sử dụng, do xe của D đã cũ nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe này. Do đó, D điều khiển xe mô tô biển số 69K1-152.00 của D vào trong hầm giữ xe của chung cư W lấy thẻ gửi xe rồi D dùng 01 “khoá 10” bằng kim loại tháo biển số xe 73B1-222.81 ra vứt bỏ, sau đó tháo biển số xe 69K1-152.00 trên xe của D gắn vào xe của ông T. Sau đó, D đợi đến khi hết ca làm của mình thì điều khiển xe của ông T ra cổng hầm giữ xe của chung cư W rồi đưa thẻ xe cho bảo vệ giữ xe rồi lái xe về nhà, khi vào gửi xe Duy có thẻ xe nhưng do đã đánh tráo biển số xe và cùng loại xe nên bảo vệ giữ xe của chung cư đã không phát hiện để cho D điều khiển xe của ông T đi ra. Ngày 20/11/2024, Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra hành chính Phạm Đức Duy đang điều khiển xe gắn máy biển số 69K1-152.00 không có giấy đăng ký xe nên bàn giao xe cho Công an phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận xử lý. Xác minh phát hiện xe gắn máy biển số 69K1-152.00 là tài sản D chiếm đoạt tại hầm xe chung cư Wilton địa chỉ số G đường N, Phường B, quận B nên Cơ quan điều tra đã mời D đến làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 343 ngày 10/12/2024, xác định 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade biển số: 73B1-222.81 của ông Trần Quang T có giá trị là: 5.000.000 đồng. (BL: 78-79)
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại Oppo màu đen, 01 khoá 10 bằng kim loại là đồ vật D mang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội
- - 01 biển số xe: 69K1-152.00;
- - 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, biển số: 73B1-222.81, có số khung: RLHJA3626EY107039, số máy: JA36E-0170574 là xe của ông Trần Quang T đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả xe trên cho ông T.
2
Trách nhiệm dân sự: ông Trần Quang T đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số 133/CTr-VKSBTh ngày 21 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Đức D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Phạm Đức D đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Phạm Đức D từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:
Vào khoảng tháng 02/2024, tại chung cư W địa chỉ số G đường N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Phạm Đức D đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là đánh tráo biển số 69K1-152.00 từ 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade của D sang 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade biển số 73B1-222.81 của ông Trần
3
Quang T rồi dùng thẻ gửi xe biển số 69K1-152.00 qua mặt bảo vệ giữ xe của chung cư Wilton nhằm chiếm đoạt chiếc xe trên của ông T để sử dụng.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Phạm Đức D đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét thấy, bị cáo Phạm Đức D là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng sự sơ suất, tin tưởng dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo D là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Phạm Đức D có thời gian chấp hành hình phạt tù nhưng bị cáo không ăn năn hối cải, tiếp tục phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng theo điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng:
- - 01 điện thoại Oppo màu đen là tài sản riêng của bị cáo D, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 khoá 10 bằng kim loại là đồ vật D mang trên người khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 biển số xe: 69K1-152.00, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Các vật chứng khác cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
4
- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Đức D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Phạm Đức D 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 04/12/2024
- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 khoá 10 bằng kim loại, 01 biển số xe: 69K1-152.00.
- - Trả lại cho bị cáo Phạm Đức D: 01 điện thoại hiệu Oppo màu đen, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng bên trong.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Đức D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |
6
Bản án số 96/2025/HSST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 96/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức D - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
