|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2025/HS-ST
Ngày: 29/5/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Ngô Rạng Đông
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Ba
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85 /2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Minh H. Sinh năm 1997, tại: thành phố Hồ Chí Minh;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Nơi ĐKTT: 790/44/20 H, khu phố A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có chỗ ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 5/12; Cha: Đỗ Minh P, không rõ năm sinh, đã chết; Mẹ: Phạm Minh N, không rõ năm sinh, đã chết; Bị cáo không có anh, chị, em; Bị cáo chưa có vợ, con.
*Tiền án: 01 lần, Ngày 31/5/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xử phạt 06 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự tại bản án số 63/2024/HS-ST. Ngày 06/8/2023, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.
*Tiền sự: Chưa có.
Về nhân thân, Ngày 10/9/2024, bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 3 Điều 173 tại Bản án số 170/HS-ST, ngày 10/9/2024.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T ( theo QĐ số 03/2024/QĐ-CA, ngày 14/10/2024 của TAND quận Tân Phú thành phố HCM )
Bị hại: Bà Võ Thị H1, sinh năm 1979.
Chổ ở: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
( Bị hại, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ, ngày 18/8/2023, Phạm Minh H đi bộ đến trước khu vực nhà hàng B thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Aipha, màu xanh bạc đen, biển số 68P1-729.47 của bà Võ Thị H1 đang dựng trước nhà hàng. Thấy không có người trong coi nên H đi vào lấy trộm xe mô tô của bà H1 dẫn ra ngoài gỡ giây khóa điện nối lại rồi điều khiển xe chạy xuống phà T thuộc ấp B, xã H đem về nhà H tại số G H, khu phố A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh cất giấu. Sau đó, H lấy biển số 62H1-233.09, H nhặt được trước đó gắn vào xe mô tô lấy trộm của bà H1 dùng làm phương tiện đi lại, còn biển số 68P1-729.47 H đã vứt bỏ trước nhà. Đến ngày 17/02/2024, Tăng Văn M đến mượn xe mô tô của H đi công chuyện thì bị Công an quận T, thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, phát hiện xe mô tô M đang sử dụng là xe do H trộm cắp. Ngày 06/9/2024, Phạm Minh H bị Cơ quan điều tra – Công an thành phố P khởi tố để điều tra.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Aipha, màu xenh bạc đen, số máy; JA39E2506778, số khung: RLHJA3928VY, đã qua sử dụng.
- - Biển số 68P1-729.47 sau khi trộm cắp xe bị can tháo ra vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
- - 01 biển số 62H1-233.09, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Hồ Chí Minh đang tạm giữ để giải quyết trong vụ án khác.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 35/KL-HDDGTS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Aipha, màu xenh bạc đen, số máy; JA39E2506778, số khung: RLHJA3928VY, biển số 68P1-729.47 đã qua sử dụng. Tại thời điểm tháng 8 năm 2023, trị giá 12.100.000 đồng.
Bị cáo, bị hại không có ý kiến gì đối với kết luận định giá tài sản thành phố P về giá trị các tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của bị hại.
Bản cáo trạng số 181/CT-VKSPQ ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Phạm Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS;
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt đối với bị cáo H chấp hành chung với bản án số 170/2024/HS-ST, ngày 29/11/2024, của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trao trả tài sản trên cho chủ sở hữu, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo không có mặt tại phiên tòa nên không tranh luận với đại diện viện kiểm sát cũng như lời nói sau cùng như nội dụng đơn xin xét xử vắng mặt bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của bị hại, bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào khoản khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị hại, bị cáo.
[3] Đánh giá chứng cứ: Vào khoảng 02 giờ ngày 18/8/2023, tại nhà hàng B thuộc khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Phạm Minh H lén lút lấy trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Aipha, màu xenh bạc đen, biển số 68P1-729.47 của bà Võ Thị H1 trị giá 12.100.000 đồng. Ngày 06/9/2024, Phạm Minh H bị Cơ quan điều tra – Công an thành phố P khởi tố để điều tra.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phạm Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, nghị cần xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bản thân bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội mới.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, HĐXX không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường. Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh H 01( Một) năm tù về tội trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56 BLHS tổng hợp hình phạt đối với bị cáo H tại bản án số 170/2024/HS-ST, ngày 29/11/2024, của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS.
- Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án cho bị cáo Phạm Minh H phải chấp hành là 05 (Năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/01/2024.( ngày của bản án số 170/2024/HS-ST, ngày 29/11/2024)
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, HĐXX không xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, miễn xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nhưng bị cáo, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thị Hồng Tâm |
Bản án số 96/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 96/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm
