|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 96/2025/HS-ST Ngày 26/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lượng
Ông Nguyễn Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với:
Bị cáo Trương Trí V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 13 tháng 01 năm 1983, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố H, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Không nghề; Con ông Trương Đ (Đã chết); Con bà Nguyễn Thị X; sinh năm 1949; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985 (Đã ly hôn); Có 01 con tên Trương Thị Hoàng L, sinh năm 2006, hiện đang ở với mẹ.
Tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân:
- + Ngày 05/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 06/2008/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/4/2008, đã được xóa án tích.
- + Ngày 17/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2021, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 09/3/2025, đến ngày 18/3/2025 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Q cho đến nay. Có mặt.
* Người tham gia tố tụng:
- - Bị hại: Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Dư H; sinh năm: 1978; địa chỉ: Khu phố 1, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
- - Người làm chứng: Anh Võ Tiến T1; sinh năm: 1993; địa chỉ: Khu phố H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút đến 09 giờ 00 phút ngày 07/11/2023, Trương Trí V rủ Võ Tiến T1 đến khu đô thị V để trộm cắp tài sản thì T1 đồng ý. V chở T1 bằng xe mô tô biển kiểm soát: 75L1-1947 (xe của V) đến trước căn nhà số H (khu đô thị V, khu phố C, phường Đ, thành phố Đ). T1 đứng bên ngoài cảnh giới, V đi vào trong tầng một ngôi nhà lén lút lấy 01 máy đục nhãn hiệu MAKITA M8600, 220V, 4.3A, 50-60Hz, 900W và 01 máy đục nhãn hiệu YAMASU, model YMS-0810, 1650W, 220V, 50Hz, đã qua sử dụng của anh Phạm Quốc T. Sau đó, V và T1 đưa tài sản trộm cắp được đến cửa hàng Đ1 (địa chỉ: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ) bán cho anh Nguyễn Dư H với giá 1.100.000 đồng. Số tiền có được, V và T1 tiêu xài chung với nhau hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá 01 máy đục nhãn hiệu MAKITA M8600, 220V, 4.3A, 50-60Hz, 900W, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.126.870 đồng; 01 máy đục nhãn hiệu YAMASU, model YMS-0810, 1650W, 220V, 50Hz, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.615.000 đồng. Tổng trị giá tài sản sản bị chiếm đoạt là 4.741.870 đồng (Bốn triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi đồng).
Cáo trạng số 87/CT-VKSĐH ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Trương Trí V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Trương Trí V về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Trí V từ 09 tháng đến 11 tháng tù.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 08 giờ 30 phút đến 09 giờ 00 phút ngày 07/11/2023, Trương Trí V rủ Võ Tiến T1 đến khu đô thị V để trộm cắp tài sản thì T1 đồng ý. V chở T1 bằng xe mô tô biển kiểm soát: 75L1-1947 (xe của V) đến trước căn nhà số H (khu đô thị V, khu phố C, phường Đ, thành phố Đ). T1 đứng bên ngoài cảnh giới, V đi vào trong tầng một ngôi nhà lén lút lấy 01 máy đục nhãn hiệu MAKITA M8600, 220V, 4.3A, 50-60Hz, 900W và 01 máy đục nhãn hiệu YAMASU, model YMS-0810, 1650W, 220V, 50Hz của anh Phạm Quốc T. Sau đó, V và T1 đưa tài sản trộm cắp được đến bán cho anh Nguyễn Dư H với giá 1.100.000 đồng. Số tiền có được, V và T1 tiêu xài chung với nhau hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: Trị giá 01 máy đục nhãn hiệu MAKITA M8600, 220V, 4.3A, 50-60Hz, 900W, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.126.870 đồng; 01 máy đục nhãn hiệu YAMASU, model YMS-0810, 1650W, 220V, 50Hz, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.615.000 đồng. Tổng trị giá tài sản sản bị chiếm đoạt là 4.741.870 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Trí V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
[3] hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, làm mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhân thân xấu, hai lần bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài hành vi trên, trong 02 ngày 05/11/2023 và ngày 10/11/2023, V và T1 còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác tại khu đô thị V nhưng trị giá tài sản chiếm đoạt của mỗi vụ đều dưới 02 triệu đồng nên ngày 28/4/2025, Công an phường Đ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 114/QĐ-XPHC, xử phạt Trương Trí V về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Trong vụ án này bị cáo là người rủ Võ Tiến T1 đi trộm cắp tài sản. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, đến ngày 09/3/2025 bị bắt. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Xe mô tô biển kiểm soát: 75L1-1947 của bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên bị cáo khai đã bán xe cho một người không rõ nhân thân lai lịch, sau khi thực hiện các vụ trộm cắp tại khu đô thị V. Quá trình điều tra không xác định được.
Bị hại anh Phạm Quốc T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
[6] Một số hành vi liên quan:
- - Đối với anh Nguyễn Dư H là người mua tài sản từ T1 và V nhưng không biết những tài sản này do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
- - Đối với hành vi phạm tội của Võ Tiến T1, đã được xét xử tại Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 08/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- - Ngoài hành vi trên, trong 02 ngày 05/11/2023 và ngày 10/11/2023, V và T1 còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác tại khu đô thị V nhưng trị giá tài sản chiếm đoạt của mỗi vụ đều dưới 02 triệu đồng nên ngày 07/3/2024, Công an thành phố Đ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 67/QĐ, xử phạt Võ Tiến T1 về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 28/4/2025, Công an phường Đ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 114/QĐ-XPHC, xử phạt Trương Trí V về hành vi “Trộm cắp tài sản".
[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn:
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành Quyết định tạm giam 45 ngày đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[8] Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Trương Trí V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Trương Trí V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Trí V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/3/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 96/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 96/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Trí V
