|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HS-ST Ngày 14-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Hùng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Hồng N, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1972 tại Hải Phòng; nơi cư trú: B Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là B Đà Nẵng, phường N, Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Huy T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); bị cáo có chồng là Mai Duy C (đã chết) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 10/4/2025 đến ngày 16/4/2025 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người làm chứng:
- + Chị Trần Thị C1; vắng mặt.
- + Chị Đinh Thị M; vắng mặt.
- + Anh Phạm Hồng P; vắng mặt.
- + Anh Trần Hoài N1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 09/4/2025, tại cơ sở M1, địa chỉ: tầng A, tòa nhà S, địa chỉ số D L, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là số D L, phường N, thành phố Hải Phòng), Công an phường V (nay là công an phường N) tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang Đỗ Thị Hồng N là chủ của cơ sở M2 có hành vi Chứa mại dâm. Phát hiện tại các phòng:
- - Room 2, Trần Thị C1 (sinh năm: 1984, trú tại: phường Q, thành phố T) đang mua bán dâm với Phạm Hồng P (sinh năm: 1985, trú tại: 1 P, phường N, thành phố Hải Phòng), thu giữ 01 bao cao su đã qua sử dụng của Phạm Hồng P.
- - Vip 1, Đinh Thị M (sinh năm: 1994, trú tại: xã S, tỉnh Quảng Ngãi) đang dùng tay kích dục cho khách là Trần Hoài N1 (sinh năm: 2002, trú tại: H Đ, phường H, thành phố Hải Phòng).
- - Phòng V, phòng V1, phòng V2, phòng Room có một số nhân viên đang massage cho khách.
Tại Cơ quan Công an, Đỗ Thị Hồng N khai nhận: Do quan hệ quen biết, nên N đã nhờ ông Đàm Văn H (sinh năm 1949, nơi thường trú: 973 T, phường L, thành phố Hải Phòng) là giám đốc Công ty TNHH A (địa chỉ trụ sở: I T, phường L, thành phố Hải Phòng) giao lại cơ sở Massage Sơn H1 để kinh doanh (trước đó ông H đã kinh doanh nhưng do thua lỗ nên năm 2014 đã dừng hoạt động). Ông H đồng ý và làm toàn bộ thủ tục giấy tờ giúp N và không hưởng lợi nhuận gì từ việc kinh doanh của cơ sở. Toàn bộ hoạt động của cơ sở do N chịu trách nhiệm. Trong quá trình hoạt động, khách có nhu cầu đến Massage tại cơ sở sẽ gặp trực tiếp N tại quầy thu ngân để mua vé với giá 250.000 đồng/01 lượt, N sẽ sắp xếp nhân viên cho khách. Trong quá trình massage cho khách, ngoài các hoạt động bình thường như đấm lưng, bấm huyệt, xông hơi, nếu khách nào có nhu cầu kích dục hoặc mua dâm thì sẽ thỏa thuận trực tiếp và trả tiền cho nhân viên, N không liên quan hưởng lợi đến số tiền này, tuy nhiên, để tăng doanh thu cho cơ sở massage S, N đã đồng ý cho nhân viên của quán thực hiện hành vi mua bán dâm tại cơ sở của mình.
Ngày 09/4/2025, cơ sở M2 có 06 khách nam, Đỗ Thị Hồng N đã thu tiền của 03 khách là 750.000 đồng (trong đó, Phạm Hồng P và Trần Hoài N1 là bạn đi cùng nhau, P đã trả 500.000 đồng/02 vé). Còn lại 03 khách hẹn sau khi massage xong mới thanh toán.
Quá trình massage, Phạm Hồng P có nhu cầu mua dâm nên đã thỏa thuận với Trần Thị C1 và được C1 đồng ý với giá là 500.000 đồng, Trần Hoài N1 có nhu cầu kích dục bằng tay nên đã thỏa thuận với Đinh Thị M và được M đồng ý với giá 500.000 đồng. Khi P vừa quan hệ tình dục với Chang xong thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Cơ quan điều tra Đỗ Thị Hồng N và các đối tượng khai nhận phù hợp với nội dung nêu trên, ngoài ra N còn khai nhận số tiền 750.000 đồng thu được của 03 khách N đã sử dụng để trả tiền ship trước đó nên trong quá trình bắt giữ không thu giữ được số tiền này.
Tiến hành làm việc với ông Đàm Văn H (giám đốc Công ty TNHH A), ông H trình bày: Năm 2013, Công ty TNHH S1 (địa chỉ I L, quận N, thành phố Hải Phòng này là 90 L, phường G, thành phố Hải Phòng) do ông Định Trọng T2 là giám đốc có ký hợp đồng với Công ty TNHH A về việc thuê lại toàn bộ tầng 9B tòa nhà S, số D L phường V, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là số D L, phường N, thành phố Hải Phòng) để kinh doanh cơ sở Massage. Nhưng do kinh doanh không hiệu quả nên ông H đã giao toàn bộ lại cơ sở cho Đỗ Thị Hồng N, N có trách nhiệm trả tiền thuê mặt bằng, việc hoạt động của cơ sở Massage ông H không biết và cũng không hưởng lợi.
Việc thu thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Chuyển Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý: 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSKV3 ngày 06/10/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Hồng N về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Đỗ Thị Hồng N khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Hồng N với mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm”, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng (Đựng trong phong bì niêm phong dán kín coc chữ ký niêm phong của những người có liên quan). Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
[3] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 09/4/2025, tại cơ sở M1 tại tầng A, tòa nhà S, địa chỉ số D L, phường N, thành phố Hải Phòng, Công an phường N bắt quả tang Đỗ Thị Hồng N có hành vi sử dụng địa điểm là cơ sở kinh doanh massage của mình để thực hiện việc mua bán dâm. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Chứa mại dâm được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục, là một trong những tệ nạn mà Nhà nước nghiêm cấm. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
- Về nhân thân:
[6] Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[7] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[8] Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo; mẹ bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[9] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo Đỗ Thị Hồng N chưa tiền án, tiển sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung
[8] Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng (Đựng trong phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của những người có liên quan).
- Về án phí:
- [10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Về quyền kháng cáo đối với bản án:
- [11] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- - Những vấn đề khác:
- [12] Đối với hành vi mua bán dâm của Trần Thị C1, Phạm Hồng P và hành vi mua bán kích dục của Đinh Thị M và Trần Hoài N1, Công an thành phố H ra quyết định xử phạt hành chính.
- [13] Đối với ông Định Trọng C2, Đàm Văn H2 không liên quan và không hưởng lợi đến cơ sở Massage của Đỗ Thị Hồng N nên không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Hồng N phạm tội “Chứa mại dâm”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Hồng N 27 (hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Thị Hồng N cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo có ý vị phạm nghĩa vụ theo quy định tại điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Đỗ Thị Hồng N thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đỗ Thị Hồng N.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng (Đựng trong phong bì niêm phong dán kín của những người có liên quan).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/10/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đỗ Thị Hồng N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- - VKSND thành phố Hải Phòng;
- - VKSND Khu vực 3 - Hải Phòng;
- - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng;
- - Phòng THADS Khu vực 3- Hải Phòng;
- - AV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- - PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
- - Bị cáo;
- - Lưu: HS, VT.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |
Bản án số 96/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG về hình sự - tội chứa mại dâm
- Số bản án: 96/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA Đỗ Thị Hồng N
