TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2025/HS-ST Ngày: 12-6-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Hoàng Việt
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/ Dương Hiển Y; sinh ngày: 04/6/1955 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A đường H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 188/7 L, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Hiển L (chết) và bà: Nguyễn Thị L1 (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/5/1980, bị Công an G bắt về hành vi buôn bán hàng cấm và đưa hối lộ. Qua xác minh không tìm thấy thông tin trong số lưu trữ. Ngày 03/10/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, theo Bản án số 118/2005/HSST. Bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách từ ngày 03/4/2007; Bị cáo đã thi hành xong phần án phí vào ngày 08/10/2009.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/9/2024.
2/ Lê Ngọc Huy D; sinh ngày: 01/9/1970 tại Quảng Trị; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1 đường N, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 1 đường N, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Ngọc T (chết) và bà: Tăng Thị Ngọc L2; vợ: Nguyễn Thị Diệu H; Bị cáo có 04 người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 7/2005, “Đánh bạc” bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, theo Bản án số 1118/2007/HSST ngày 28/12/2007. Qua xác minh bị cáo đã thi hành xong phần án phí vào tháng 06/2008. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/9/2024.
(Các bị cáo có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Dương Hiển Y:
Bà Phan Thị Huyền T1 là Luật sư thuộc Công ty L4 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc H1 D:
Bà Bùi Thị Hồng V là Luật sư của Công ty L5 thuộc đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị Diệu H, sinh năm: 1971 (có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: 1 N, Phường D, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/02/2021, Chi cục T5 nhận được Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 293/PC-CNQ10 ngày 03/02/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh Q 10 đối với chuyển nhượng bất động sản thuộc thửa đất số 2, tờ bản đồ số 53, địa chỉ số: A Hồ B, Phường A, Quận A theo Hợp đồng mua bán số 2325 ngày 27/01/2021 tại Văn Phòng C1 với giá chuyển nhượng là 6.000.000.000 đồng, đối với Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thị Minh D1, đại diện ủy quyền và ký Hợp đồng là ông Dương Hiển Y, theo Hợp đồng ủy quyền số 74- 12/HPHLS, được T6 tại S, Hoa Kỳ chứng nhận ngày 07/12/2020 và được chứng nhận thụ ủy tại Văn phòng C2, TP. ngày 30/12/2020; Bên nhận chuyển nhượng: ông Lê Ngọc Huy D và bà Nguyễn Thị Diệu H.
Chi cục T5 nhận thấy, giá mua bán, chuyển nhượng khai tại cơ quan thuế là: 6.000.000.000 đồng thấp hơn giá mua bán, chuyển nhượng trên Phụ lục hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 2326 ngày 27/01/2021 tại Văn Phòng C1 là 13.000.000.000 đồng. Sau khi điều chỉnh giá chuyển nhượng trên Phụ lục Hợp đồng số 2326, người nộp thuế đã không đến cơ quan thuế để kê khai bổ sung, làm giảm số thuế phải nộp cho Ngân sách nhà nước với số tiền chênh lệch là 175.000.000 đồng (thuế TNCN là 140.000.000 đồng; Lệ phí trước bạ là 35.000.000 đồng). Xét thấy hành vi có dấu hiệu phạm tội “Trốn thuế”, ngày 20/12/2022, Chi cục T5 có Công văn số 3244/CCTQ10-TBTK chuyển hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra giải quyết.
Ngày 12/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trên các Hợp đồng. Ngày 25/10/2023, Phòng K1, Công an T7 có Kết luận giám định số 11384/KL-KTHS với nội dung: Chữ ký, chữ viết họ tên Dương Hiển Y, Lê Ngọc Huy D, Nguyễn Thị Diệu H trên 04 tài liệu cần giám định (Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 002325 ngày 27/01/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung “Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 002326 ngày 27/01/2021; Văn bản thỏa thuận hủy “Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 002327 ngày 27/01/2021; Giấy ủy quyền số công chứng 002328 ngày 27/01/2021 tại Văn phòng C1) so với chữ ký, chữ viết của Dương Hiển Y, Lê Ngọc Huy D và Nguyễn Thị Diệu H trên các tài liệu mẫu so sánh (Biên bản làm việc, Bản tự khai/Bản tường trình) do cùng một người ký, viết ra.
Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định về thuế trong quan hệ mua bán căn nhà trên. Ngày 30/12/2023 ông Lưu Huy C (Đội trưởng đội trước bạ và T2 khác trực thuộc Chi cục Thuế huyện B, theo Công văn số 3865/CTBC-HC ngày 27/4/2023 của Chi cục Thuế huyện B về việc giới thiệu giám định viên tư pháp về thuế) là giám định viên về thuế có Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực thuế kết luận: “Bà Nguyễn Thị Minh D1 đã có hành vi trốn nộp thuế thu nhập cá nhân với số tiền thuế trốn là 140.000.000 đồng. Ông Lê Ngọc Huy D đã có hành vi trốn thuế (trốn nộp Lệ phí trước bạ) với số tiền là 17.500.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Diệu H đã có hành vi trốn thuế (trốn nộp Lệ phí trước bạ) với số tiền là 17.500.000 đồng”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra các bị cáo Dương Hiển Y, Lê Ngọc Huy D, khai nhận như sau: Bất động sản thuộc thửa đất số 2, tờ bản đồ số 53, địa chỉ số 117 (số C, một phần) Hồ Bá K, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích 108,7m² do bà Nguyễn Thị Minh D1 là chủ sở hữu, đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI997046 do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 23/10/2017 đăng ký biến động ngày 01/11/2017.
Do có nhu cầu nhận chuyển nhượng đất để đầu tư, nên bị cáo Lê Ngọc Huy D chủ động đi tìm nguồn đất. Khoảng tháng 01/2021, thông qua thông tin đăng rao bán nhà đất trên báo, qua tìm hiểu bị cáo D được người môi giới (không rõ lai lịch) giới thiệu dẫn đến gặp bị cáo Dương Hiển Y. Quá trình trao đổi bị cáo D được bị cáo Y cho biết bà Nguyễn Thị Minh D1 (vợ) là chủ sở hữu thửa đất số 2, tờ bản đồ số 53 nêu trên, hiện bà D1 đang ở nước ngoài và đã làm uỷ quyền cho bị cáo Y để thực hiện việc chuyển nhượng, do cần nói chuyện với bà D1 nên bị cáo D để lại số điện thoại. Sau đó, bà D1 liên lạc và trao đổi thống nhất giá mua bán với bị cáo D là 13.000.000.000 đông, các việc còn lại do các bị cáo chủ động bàn bạc thoả thuận, thống nhất với nhau.
Trước khi tiến hành các thủ tục chuyển nhượng, bị cáo Lê Ngọc Huy D và người môi giới trao đổi bàn bạc nội dung về việc ghi giảm giá trị chuyển nhượng trên hợp đồng từ 13.000.000.000 đồng thành 6.000.000.000 đồng. Bị cáo Y có nghe, nhưng thấy việc ghi giảm giá trị chuyển nhượng trên bên bán sẽ giảm số tiền thuế thu nhập cá nhân phải đóng cho Nhà nước và bên mua sẽ giảm số tiền lệ phí trước bạ phải đóng cho Nhà nước, nên bị cáo Y không có ý kiến phản đối mà đồng ý vào hợp đồng chuyển nhượng với giá là 6.000.000.000 đồng. Sau đó, bên chuyển nhượng là bị cáo Dương Hiển Y và bên nhận chuyển nhượng bị cáo Lê Ngọc Huy D và vợ là Nguyễn Thị Diệu H cùng tiến hành ký kết các hợp đồng văn bản sau: Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 002325 ngày 27/01/2021, với giá trị chuyển nhượng thể hiện trên hợp đồng là 6.000.000.000 đồng; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung “Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 002326 ngày 27/01/2021, nội dung: sửa đổi bổ sung giá trị trên Hợp đồng số công chứng 002325 thành 13.000.000.000 đồng; Văn bản thỏa thuận hủy “Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất” số công chứng 002327 ngày 27/01/2021, nội dung: hủy “Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 002326"; Giấy ủy quyền số công chứng 002328 ngày 27/01/2021, nội dung: tiến hành ủy quyền cho ông Phạm Trọng T3, HKTT: F G, Phường D, quận T thực hiện các thủ tục đăng ký và nhận mã số thuế, nộp và nhận hồ sơ thuế, kê khai và ký tên trên tờ khai thuế thu nhập cá nhân, tờ khai lệ phí trước bạ; nộp thuế, phí, lệ phí kể cả thuế phi nông nghiệp (nếu có); nộp các khoản phí, lệ phí và quyết định các vấn đề có liên quan nội dung được ủy quyền.
Cùng ngày, bị cáo D đã thanh toán đủ số tiền còn lại liên quan việc chuyển nhượng, bằng hình thức chuyển khoản 12.000.000.000 đồng từ tài khoản 1018892245 (do Lê Ngọc H1 D đứng tên, mở tại Ngân hàng V1) chuyển đến tài khoản số 1018056074 (do Dương Hiển Y đứng tên, mở tại Ngân hàng S - Chi nhánh Thành phố H – Phòng G1). Bị cáo Y tiến hành thủ tục chuyển khoản 9.020.000.000 đồng từ tài khoản số 1018056074 đến tài khoản vay số 1011149645 (do Nguyễn Thị Minh D1 đứng tên, mở tại Ngân hàng S) để xoá thế chấp khoản vay theo Thông báo giải chấp số 37/2020/TBGC-SHB.HCM ngày 27/01/2021 của Ngân hàng S. Sau khi được ngân hàng xoá thế chấp trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bị cáo Y đã bàn giao cho bị cáo D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên và đưa cho bị cáo D 120.000.000 đồng tiền mặt là tiền thuế thu nhập cá nhân (tương đương 02% giá trị chuyển nhượng theo hợp đồng để khai thuế là 6.000.000.000 đồng) để bị cáo D chủ động việc đóng thuế và đăng bộ sang tên nhà đất trên. Số tiền còn lại, bị cáo Y thực hiện thanh toán các khoản vay cá nhân tại Ngân hàng S1, Ngân hàng A1, giai đoạn này L3 hỗ trợ bị cáo Y kiểm tra về nội dung chuyển tiền, số tiền chuyển đối với các khoản vay phải trả trên các giấy tờ, chứng từ liên quan khoản vay để tránh sai sót. Sau khi chuyển nhượng xong, bị cáo D về nhà và đưa cho Phạm Trọng T3 (người được uỷ quyền) Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 002325 ngày 27/01/2021, với giá trị thể hiện trên hợp đồng là 6.000.000.000 đồng, Giấy uỷ quyền số công chứng 002328 ngày 27/01/2021 tại Văn phòng C1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI997046, để T3 thực hiện việc đăng bộ sang tên. Ngày 08/02/2021, Chi cục T5 đã phát hành Thông báo nộp thuế thu nhập cá nhân với số tiền 120.000.000 đồng và Thông báo nộp lệ phí trước bạ với số tiền 30.000.000 đồng. Sau khi nhận thông báo, T4 thông báo nội dung trên cho D và nhận từ D 150.000.000 đồng tiền mặt để đi đóng tiền nộp thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ. Ngày 23/02/2021, T3 đến V2 – Chi nhánh 10 nộp 120.000.000 đồng tiền thuế thu nhập cá nhân (theo biên lai đóng tiền số 0015679 ngày 23/02/2021) và nộp 30.000.000 đồng tiền lệ phí trước bạ (theo biên lai số 0015680 ngày 23/02/2021). Sau đó, T3 thông báo cho D về việc đã nộp tiền xong và đã nộp các biên lai trên đến cơ quan thuế. Sau khi thực hiện thủ tục cập nhật sang tên, T3 đã bàn giao cho bị cáo D Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được trả phí 2.000.000 đồng tiền mặt. T3 không tham gia, không liên quan và không biết giá trị chuyển nhượng bất động sản địa chỉ A Hồ B, Phường A, Quận A thực tế là bao nhiêu, không biết và chưa gặp mặt với bên chuyển nhượng trên.
Ngày 24/02/2021, Văn phòng Đ. Hồ Chí M – Chi nhánh Q đã cập nhật thay đổi thông tin chủ thể đối với thửa đất số 2, tờ bản đồ số 53 cho ông Lê Ngọc Huy D và bà Nguyễn Thị Diệu H, căn cứ theo Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 2325 ngày 27/01/2021 lập tại Văn phòng C1.
Bà Nguyễn Thị Minh D1 khai: Bà là chủ thửa đất số 2, tờ bản đồ số 53, D1 và bị cáo D chỉ trao đổi, thoả thuận thống nhất về nội dung giá trị chuyển nhượng 13.000.000.000 đồng, các việc còn lại về đặt cọc, thời gian, địa điểm tiến hành chuyển nhượng, tiền thuế phải đóng bị cáo Y và bị cáo D tự chủ động bàn bạc thoả thuận, thống nhất với nhau.
Bà Nguyễn Thị Diệu H khai: Bà là vợ của bị cáo Lê Ngọc Huy D. Vào ngày 27/01/2021, tại Văn phòng C1, bà H cùng bị cáo D tiến hành ký các hợp đồng văn bản chuyển nhượng đối với thửa đất số 2, tờ bản đồ số 53. Do bị cáo D thường đi mua bán nhà, bị cáo D liên lạc trao đổi nhiều với khách hàng và chủ đất; do là vợ chồng nên bà H thường đi cùng bị cáo D để ký các văn bản hợp đồng chuyển nhượng mua bán đất, nên khi đến Văn phòng C1, bà H tiến hành ký các văn bản hợp đồng chuyển nhượng, bà H không đọc lại nội dung. Bà H không biết giá trị chuyển nhượng, không biết nội dung trao đổi thoả thuận mua bán thửa đất trên, không tham gia việc thoả thuận ghi giảm giá trị chuyển nhượng trên hợp đồng chuyển nhượng.
Ông Phạm Trọng T3 khai: T3 chỉ là người được uỷ quyền thực hiện các thủ tục nộp nhận hồ sơ, kê khai và ký tên trên tờ khai thuế thu nhập cá nhân, tờ khai lệ phí trước bạ theo nội dung Hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng 002325 ngày 27/01/2021 mà bị cáo D cung cấp. Bị cáo D xác định T3 không phải là người môi giới. Ngày 27/01/2021, T3 không có mặt tại Văn phòng C1, không biết giá trị chuyển nhượng thực tế, không tham gia việc thoả thuận, mua bán chuyển nhượng trên, không biết việc thoả thuận ghi giảm giá trị chuyển nhượng, không ký tên trên hợp đồng chuyển nhượng, không biết và chưa gặp mặt với bên chuyển nhượng.
Bà Hoàng Thị Mỹ L3 khai: L3 chỉ đi theo và hỗ trợ bị cáo Y trong việc di chuyển đi lại, hỗ trợ bị cáo Y kiểm tra tránh sai sót về nội dung chuyển tiền, số tiền chuyển đối với các khoản vay phải trả trên các giấy tờ, chứng từ liên quan khoản vay trả nợ tại Ngân hàng S1, Ngân hàng A1 và không hưởng lợi ích gì. Quá trình chuyển nhượng tại Văn phòng C1, L3 không biết các nội dung văn bản mà bị cáo Y đã ký trên có nội dung gì, L3 cũng không hỏi bị cáo Y về những nội dung bị cáo Y đã ký. L3 không biết giá trị chuyển nhượng, không tham gia việc thoả thuận, mua bán chuyển nhượng trên, không biết việc thoả thuận ghi giảm giá trị chuyển nhượng, không ký tên trên hợp đồng chuyển nhượng.
Thông qua thông tin đăng rao bán bất động sản địa chỉ số A Hồ B, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trên báo, bị cáo Lê Ngọc Huy D liên hệ và được người môi giới (không rõ lai lịch) giới thiệu dẫn gặp bị cáo Dương Hiển Y.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Dương Hiển Y đã tự nguyện nộp số tiền 140.000.000 đồng và bị cáo Lê Ngọc Huy D đã tự nguyện nộp số tiền 35.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1T5 chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSQ10 ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Các bị cáo Dương Hiển Y, Lê Ngọc Huy D về tội: “Trốn thuế” theo khoản 1, Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đối với xã hội và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Y đã nộp lại số tiền trốn thuế là 140.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, được Hội đồng nhân dân tỉnh B tặng Bằng Khen, được Ủy ban nhân dân Quận A tặng giấy khen. Bị cáo D đang điều trị bệnh tim mạch, bị cáo D đã nội lại số tiền lệ phí trước bạ là 35.000.000 đồng; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1, Điều 200; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt mỗi bị cáo từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, không áp dụng hình phạt bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Y:
- Về tội danh và khung hình phạt: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10. Ngoài ra xin bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ bị cáo Y được Hội đồng nhân dân tỉnh B tặng Bằng Khen, được Ủy ban nhân dân Quận A tặng giấy khen, bị cáo là người 70 tuổi trở lên, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
- Về hình phạt: Không thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Y 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì bổ sung thêm.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo D:
- Về tội danh và khung hình phạt: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10. Tuy nhiên bị cáo D không phải là người khởi xướng mà cả hai bị cáo đều thống nhất thực hiện.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10. Ngoài ra xin bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ bị cáo D đang điều trị bệnh tim mạch.
- Về hình phạt: Thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 về hình phạt tiền nhưng đề nghị Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt tiền thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
- Ý kiến của bị cáo D: Không có ý kiến gì bổ sung thêm.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10:
Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Y:
+ Về tình tiết giảm nhẹ:
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng bị cáo Y là người 70 tuổi trở lên là không có cơ sở vì tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Y chưa đủ 70 tuổi.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng bị cáo Y phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là không có cơ sở vì bị cáo Y đã bị kết án một lần nên không được coi là phạm tội lần đầu.
+ Về hình phạt: Các bị cáo xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý thu thuế nên cần áp dụng hình phạt tiền mới đủ sức răn đe.
Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo D:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Người bào chữa bổ sung tình tiết giảm nhẹ bị cáo D đang điều trị bệnh tim mạch và cung cấp hồ sơ bệnh án đây là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
- Về hình phạt: Mức phạt tiền mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đề nghị là phù hợp với tích chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T7), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T7), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo Dương Hiển Y và Lê Ngọc Huy D đã có hành vi kê khai giảm số tiền mua bán chuyển nhượng căn nhà và đất tại địa chỉ số A Hồ B, Phường A, Quận A từ 13.000.000 đồng xuống còn 6.000.000 đồng để giảm số tiền thuế phải nộp là 140.000.000 đồng. Do vậy, các bị cáo Dương Hiển Y và Lê Ngọc Huy D bị truy tố và xét xử về tội: “Trốn thuế” theo điểm đ khoản 1, Điều 200 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý thu thuế cho Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình. Tuy nhiên quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải, bị cáo Y đã nộp lại số tiền trốn thuế là 140.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo là người 70 tuổi trở lên. Ngoài ra bị cáo Y được Hội đồng nhân dân tỉnh B tặng Bằng Khen, được Ủy ban nhân dân Quận A tặng giấy khen. Bị cáo D đang điều trị bệnh tim mạch, bị cáo D đã nộp lại số tiền lệ phí trước bạ là 35.000.000 đồng. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và xâm phạm đến hoạt động quản lý thuế. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe.
Trong vụ án này có đồng phạm nhưng chỉ thông mưu giản đơn, các bị cáo đã thống chất kê khai giá chuyển nhượng thấp hơn thực tế để trốn thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau.
Về hình phạt bổ sung: Đối với hình phạt tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Y đã nộp lại số tiền trốn thuế là 140.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, được Hội đồng nhân dân tỉnh B tặng Bằng Khen, được Ủy ban nhân dân Quận A tặng giấy khen. Tại thời điểm xét xử bị cáo Y là người từ 70 tuổi trở lên. Bị cáo D đang điều trị bệnh tim mạch, bị cáo D đã nộp lại số tiền 35.000.000 đồng tiền lệ phí trước bạ. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s, o khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ mà người bào chữa cho bị cáo Y đề nghị bị cáo Y là người từ 70 tuổi trở lên. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Y sinh ngày 04/6/1955 tính đến ngày xét xử (12/6/2025) thì bị cáo Y đã trên 70 tuổi. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị về tình tiết giảm nhẹ này của người bào chữa cho bị cáo Y.
Về tình tiết giảm nhẹ mà người bào chữa cho bị cáo Y đề nghị bị cáo Y phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã từng bị kết án một lần nên lần phạm tội này không được coi là lần đầu. Do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị về tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đối với bị cáo Y.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 140.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền thuế thu nhập cá nhân mà lẽ ra khi bán tài sản bị cáo Y phải có trách nhiệm nộp cho nhà nước nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 35.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây không phải là tiền thuế nhưng đây là tiền lệ phí trước bạ bị cáo D phải có nghĩa vụ nộp cho nhà nước khi đăng bộ sang tên. Xét thấy đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Dương Hiển Y là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được miễn nộp tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm đ khoản 1, Điều 200; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Ngọc Huy D;
- - Căn cứ vào điểm đ khoản 1, Điều 200; Điều 17; Điều 35; Điều 50; điểm s, b, o khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Hiển Y;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Huy D 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng về tội “Trốn thuế”.
Xử phạt bị cáo Dương Hiển Y 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng về tội “Trốn thuế”.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
Buộc bị cáo Dương Hiển Y nộp lại số tiền thuế thu nhập cá nhân là 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu) đồng. Bị cáo Y đã nộp 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng theo Giấy nộp tiền ngày 02/10/2024 của Ngân hàng TMCP C3 Chi nhánh 10 - Thành phố Hồ Chí Minh và 100.000.000 (một trăm triệu) đồng theo biên lai thu tiền số 0004188 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1T5. Bị cáo Y đã thi hành xong.
Buộc bị cáo Lê Ngọc H1 D nộp lại số tiền lệ phí trước bạ là 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng. Bị cáo D đã nộp theo Giấy nộp tiền ngày 07/10/2024 của Ngân hàng TMCP C3 Chi nhánh 10- Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo D đã thi hành xong.
Bị cáo Dương Hiển Y là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Lê Ngọc Huy D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với các bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 96/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trốn thuế
- Số bản án: 96/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Hiển Yên và đồng phạm phạm tội Trốn thuế
