Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 96/2025/HS - ST

Ngày 03 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Lan
  2. Ông Bùi Đức Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Tú và ông Hồ Sỹ T – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày 06 tháng 4 năm 2000 tại Q, Thái Bình; nơi cư trú: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Lưu Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án:

  • + Ngày 23/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử 04 tháng 02 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, cùng ngày được trả tự do tại toà, ngày 08/11/2021 chấp hành xong phần án phí.
  • + Ngày 31/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (tài sản trộm cắp trị giá 1.336.667 đồng), ngày 13/4/2023 chấp hành xong phần hình phạt, tháng 7/2023 chấp hành xong phần án phí.

Tiền sự: không; nhân thân: ngày 02/10/2019, bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đào ngũ khi đang làm nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ trong thời bình, cùng ngày chấp hành xong; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1998; nơi thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức T2, sinh năm 1997; nơi thường trú: số nhà A tổ A, khu Q, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số nhà E tổ E, khu Phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

  1. Chị Bùi Thị Thanh N; vắng mặt.
  2. Anh Trần Anh H2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/12/2024, thông qua mạng xã hội “Facebook”, H quen biết chị Nguyễn Thị Hồng D. Khoảng 19 giờ ngày 19/12/2024, H và chị D đến thuê phòng 303 tại nhà nghỉ “SUN HOTEL” thuộc tổ C, khu A, phường H, thành phố H của chị Bùi Thị Thanh N. Quá trình ở cùng, H mượn chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu trắng của chị D nên biết mật khẩu điện thoại. Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 20/12/2024, H tỉnh dậy thì thấy chị D vẫn ngủ, chiếc điện thoại di động của chị D ở đầu giường nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp, bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. H cầm chiếc điện thoại của chị D trên tay và xuống lễ tân nhờ chị N gọi xe taxi, chị N đồng ý. Khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, anh Trần Anh H2 lái xe taxi đến nhà nghỉ đón H, trên đường đi Hoàng tháo sim điện thoại của chị D và cài đặt lại máy điện thoại của chị D về cài đặt gốc. Khi đến quán điện thoại “Trọng Apple” tại số nhà E, tổ E, khu Phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh của anh Nguyễn Đức T2, H bảo anh H2 đợi rồi một mình đi vào, thỏa thuận bán chiếc điện thoại của chị D cho anh T2 với giá tiền 11.500.000 đồng, sau đó dùng 8.500.000 đồng để mua 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax, màu xám của anh T2, còn 3.000.000 đồng giữ trong người.

Khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, chị D tỉnh dậy phát hiện bị mất điện thoại, không thấy Hoàng đâu nên đã nhờ chị N gọi điện vào số điện thoại của chị D nhưng không được nên đã đến công an trình báo. Ngày 20/12/2024 H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú khai nhận như nội dung trên và tự nguyện giao nộp 3.000.000 đồng cùng chiếc điện thoại Iphone 11 Promax gắn sim của H, và 01 sim điện thoại của chị D, anh T2 tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax mua của H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 252/KLĐGTS ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax trị giá 12.420.000 đồng.

Bị hại - chị Nguyễn Thị Hồng D có lời khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên, chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max, màu trắng chị mua vào tháng 3/2023 với giá khoảng 16.500.000 đồng. Tại nhà nghỉ “SUN HOTEL” chị cho Hoàng mượn điện thoại và cho biết mật khẩu máy để sử dụng. Khi chị đi ngủ chị để điện thoại vị trí đầu giường. Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 20/12/2024, chị D ngủ dậy phát hiện bị mất chiếc điện thoại và không thấy H. Nghi ngờ H trộm cắp chiếc điện thoại rồi bỏ trốn nên chị D báo công an. Hiện nay chị đã nhận lại chiếc điện thoại không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về phần hình phạt đối với bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Đức T2 có lời khai: Anh là chủ cửa hàng mua bán điện thoại “Trọng Apple". Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, H đến cửa hàng của anh bán chiếc điện thoại Iphone 13 Pro Max, màu trắng với giá 11.500.000 đồng. Sau đó H mua chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max với giá 8.500.000 đồng, anh T2 đưa tiền thừa cho H 3.000.000 đồng. Khi mua điện thoại anh không biết chiếc điện thoại H bán do trộm cắp được mà có. Anh đề nghị được trả lại chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max và 3.000.000 đồng.

Người làm chứng - chị Bùi Thị Thanh N, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn B, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và anh Trần Anh H2, sinh năm 1986; nơi thường trú: thôn L, xã H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi tạm trú: tổ I, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh có lời khai phù hợp với nội dung vụ án trên.

Tại Cáo trạng số 1571/CT-VKSHL ngày 21/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Phạm Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng và phần dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max và sim điện thoại của chị D cho chị Nguyễn Thị Hồng D, chị D không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập. Trả lại 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax và 3.000.000 đồng cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T2.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại của bị cáo.

Quá trình khai báo bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Lời nói sau cùng: bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, bị can, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn H thể hiện do cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 06 giờ 40 phút ngày 20/12/2024, tại phòng 303 nhà nghỉ “SUN HOTEL” thuộc tổ C, khu A, phường H, thành phố H, Phạm Văn H đã có hành vi lén lút, trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax trị giá 12.420.000₫ (mười hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Hồng D.

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh phù hợp với lời khai của bị hại chị Nguyễn Thị Hồng D về việc bị mất tài sản; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức T2 về việc bị cáo đến bán chiếc điện thoại trộm cắp được cho anh T2 nhưng không nói nguồn gốc cho anh T2; phù hợp với lời khai của người làm chứng chị Bùi Thị Thanh N và anh Trần Anh H2. Đồng thời phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thành phố H; phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Hành vi của bị cáo đã thể hiện thiếu ý thức chấp hành pháp luật, coi thường các quy tắc đạo đức, xã hội; bị cáo đã lợi dụng sở hở của bị hại trộm cắp tài sản mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về nhiều tội, đã được giáo dục cải tạo, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội nên cần xử bị cáo mức án nghiêm mới phù hợp với nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Phạm Văn H có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, năm 2022 bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” với giá trị tài sản là 1.336.667 đồng; do đó tiền án năm 2021 được coi là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 20/12/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo đối với bị cáo. Nhưng dù có xét thế nào chăng nữa thì cũng nhất thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đáp ứng được yêu cầu trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng.

[6] Về phần bồi thường dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max và sim điện thoại của chị Nguyễn Thị Hồng D cho chị D. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Đức T2 đề nghị được trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax và 3.000.000 đồng thì thấy: sau khi bị cáo trộm cắp điện thoại của chị D mang đến bán cho anh T2 được 11.500.000 đồng, sau đó dùng 8.500.000 đồng để mua 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu xám của anh T2, còn 3.000.000 đồng. Khi mua chiếc điện thoại của bị cáo anh T2 không biết nguồn gốc chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp mà có. Anh T2 đã nộp lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax. Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, thấy cần trả cho anh T2 chiếc điện thoại và số tiền trên.

[7] Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả tài sản lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không đề cập.

01 sim Vietnammobile thu của bị cáo, bị cáo không có nhu cầu lấy lại, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa, áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2024.

Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại anh Nguyễn Đức T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại .

(tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 119/BB-THA ngày 24/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).

Trả lại anh Nguyễn Đức T2 3.000.000đ (ba triệu đồng).

(số tiền trên được niêm phong và nhập kho gói gửi số 1519 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q ngày 27/12/2024; biên bản giao nhận tài sản số 197/2024/BBBG-CQCSÐTCATP Hạ Long ngày 27/12/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Kho bạc Nhà nước tỉnh Q).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - CQĐT Công an tỉnh Quảng Ninh, CQTHAHS Công an tỉnh Quảng Ninh; Phòng hồ sơ nghiệp vụ tỉnh Quảng Ninh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/HS - ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 96/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn H - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger