Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HS-PT

Ngày 30/6/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh và bà Trần Thị Mỹ Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lang Văn Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2025/TLPT-HS ngày 18/02/2025, đối với các bị cáo Nguyễn Văn D, Cao Đức C, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Các bị cáo có kháng cáo.

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/5/1985; Nơi sinh: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn C1, sinh năm: 1960; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1960; Vợ: Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1984; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự: không;

    Tiền án: Ngày 12/4/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/HS-ST.

    Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Cao Đức C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1987; Nơi sinh: xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Cao Xuân L1 (Chết); Con bà: Hoàng Thị V (Sinh năm: 1960); Vợ: Võ Thị A (Sinh năm 1986); Con: có 03 con; con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự, tiền án: không;

    Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D: Luật sư Lương Văn T, thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: 1 đường P, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không có kháng nghị nên Toà án không triệu tập đến tham gia phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 29/7/2023, tại quán C3 khu D thuộc địa phận xóm F, xã D, huyện D, Nguyễn Văn D cùng với Cao Đức C; Đinh Văn B (sinh năm 1984); Hoàng Văn N1 (sinh năm 1977) (cùng trú tại xóm T, xã D); Cao Văn D1 (sinh năm 1982, trú tại xóm Đ, xã D) ngồi uống bia và nghe nhạc ở phía bên trái, gần sân khấu của quán. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn D chủ động sang bàn của anh Đậu Ánh H (sinh năm 1979, trú tại xóm H, xã D) đang ngồi cùng với một số bạn bè của anh H để chúc bia, thời điểm này, Nguyễn Văn D đã sử dụng nhiều bia rượu và có những lời lẽ thiếu tôn trọng những người ngồi trong bàn. Nguyễn Văn D lấy trên bàn 02 (hai) quả Chôm Chôm búng lên phía trên đầu những người ngồi ở bàn với ý định trêu cho vui. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, Nguyễn Văn D, Đinh Văn B, Cao Đức C gây hấn với một số thanh niên làm nhiệm vụ bảo an của quán; hai bên lôi kéo nhau ra khu vực gần cửa ra vào của quán. Lúc này, anh Nguyễn Thức L2 (sinh năm 1986, trú tại xóm F, xã D) đến khuyên D ra về, do nghĩ anh L2 ngăn cản nên D dùng 01 (một) chiếc chìa khóa bằng kim loại cầm giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa chọc 03 (ba) phát vào vùng mặt và người anh L2 làm anh L2 ngã xuống sàn. Tiếp đến, Cao Đức C, Nguyễn Văn D, Đinh Văn B cùng với nhóm nhân viên bảo an, nhân viên thu ngân, lễ tân kéo nhau ra bên ngoài sân, khi vừa ra qua cửa quán thì Nguyễn Văn D và anh Nguyễn Thức L2 ôm nhau và cùng ngã xuống sàn kéo theo một số người nữa cũng ngã theo. Lúc này, anh Cao Bá Y (nhân viên bảo an) ôm Cao Đức C ở phía sau để can ngăn; khi nhìn thấy anh Cao Bá P (nhân viên bảo an của quán) thì Cao Đức C chạy đến xông vào dùng 02 (hai) tay đẩy anh Cao Bá P ra. Tiếp đến, anh C dùng tay phải của mình đánh vào người anh P thì anh P dùng tay trái đỡ. Sau đó, anh Cao Đức C cầm tay anh Cao Bá P thì bị anh P hất ra rồi chạy ra ngoài. Cao Đức C tiếp tục đuổi đánh anh P thì được anh Đậu Ánh H và chị Phan Thị T1, sinh năm 1994, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (Nhân viên thu ngân của quán) can ngăn nên mới dừng lại. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, nhận được tin báo; Công an huyện D đã triển khai lực lượng giải tán đám đông và đưa các đối tượng liên quan về trụ sở để làm việc.

Tại Biên bản sự việc ngày 29/7/2025 tại khu vui chơi giải trí Chirita 37 thuộc xóm F, xã D, huyện D, Báo cáo về tình hình trật tự của Công an xã D, huyện D ngày 29/7/2023 và Báo cáo về tình hình an ninh trật tự ngày 30/7/2023 của Ban Q đều có nội dung báo cáo về vụ việc xảy ra ngày 29/7/2023 tại D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 30/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đối với Nguyễn Văn D, ghi nhận như sau: 01 (Một) vết thương ở phía trên đuôi lông mày bên phải, kéo dài từ chân tóc thái dương đến đuôi lông mày bên phải, kích thước (05cm x 0,1cm); 01 (Một) vết bầm tụ máu ở môi dưới bên trái, kích thước (02cm x 01cm);

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 31/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đối với anh Nguyễn Thức L2, ghi nhận như sau:

  • 01 (Một) Vết thương phía trên đuôi mày bên trái, kích thước (0,5cm x 0,1cm).
  • 01 (Một) Vết xây xước da ở bả vai bên trái, cách xương khớp vai trái 09cm, kích thước (4cm x 0,2cm).

Ngày 30/7/2023, Nguyễn Văn D có đơn xin từ chối giám định về thương tích. Ngày 03/8/2023, anh Nguyễn Thức L2 có đơn từ chối giám định thương tích.

Về việc thu giữ và xử lý vật chứng:

  • 01 (một) chiếc chìa khóa xe mô tô bằng kim loại gắn nhựa màu đen, trên phần nhựa ghi chữ “HONDA”; phần kim loại ghi chữ “Khóa Anh T2” 0868757677. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An.
  • 01 (một) USB nhãn hiệu SanDisk, bằng kim loại màu trắng, gắn nhựa màu đen, bên trên phần nhựa màu đen ghi 32 GB, BM 2204003113Z. Hiện chuyển hóa thành tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 3.000.000 đồng cho anh Nguyễn Thức L2 và anh L2 không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 195/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 khoản 2 Điều 56; điểm h khoản 1 điều 52; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2022/HSST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cao Đức C 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về việc chấp hành thời gian thử thách án treo, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn D kháng cáo; ngày 12/12/2024 bị cáo Cao Đức C với các nội dung: xét xử lại vụ án, các bị cáo cho rằng xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” là quá nặng. Bị cáo D cho rằng cấp sơ thẩm nhận định bị cáo dùng chiếc chìa khóa xe máy là hung khí để áp dụng điểm b khoản 2 điều 138 BLHS là không đúng vì chìa khóa không phải là hung khí, do cấp sơ thẩm bị cáo không tham gia phiên tòa nên bị cáo không được tranh luận và không xin giảm nhẹ hình phạt được. Đề nghị tuyên bị cáo không có tội, nếu có tội thì xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Bị cáo Chung cho rằng cấp sơ thẩm nhận định bị cáo đánh nhau với anh P là không đúng, bị cáo chỉ tham gia tranh luận không đánh nhau và không phá phách nên bị cáo không phạm tội. Đề nghị HĐXX xem xét, trong trường hợp phạm tội thì xin giảm nhẹ hình phạt và phạt hành chính đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phúc thẩm phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các các bị cáo Nguyễn Văn D, Cao Đức C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D tranh luận: Bản án sơ thẩm xét xử Nguyễn Văn D theo điểm b khoản 2 điều 318 BLHS tuyên phạt bị cáo 12 tháng tù giam là quá nặng. Bị cáo kháng cáo kêu oan, kiến nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét bị cáo không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” vì những lý do: Bị cáo dùng chiếc chìa khóa chọt vào người bị hại không phải là hung khí. Tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt bị cáo D, người bị hại, người làm chứng, người bị hại không có đơn khiếu nại, tố cáo hành vi của bị cáo D và C; anh L2 có mối quan hệ quen biết với bị cáo D có đơn xin giảm nhẹ cho các bị cáo; anh T3 là chủ quán nơi xảy ra sự việc không khiếu nại, hành vi của các bị cáo không ảnh hưởng đến việc kinh doanh nên cấp sơ thẩm chỉ dựa vào lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của người bị hại, người làm chứng giống nhau để làm chứng cứ buộc tội là không đúng. Quá trình điều tra không cho bị cáo, người bị hại và người làm chứng đối chất là vi phạm thủ tục tố tụng, sự việc không có biên bản hiện trường, không có xác nhận của chính quyền địa phương về ảnh hưởng an ninh trật tự nên cấp sơ thẩm xét xử trái nguyên tắc suy đoán người vô tội, chỉ dùng lời khai của của bị cáo, người bị hại và người liên quan là không có chứng cứ. Đề nghị Hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo D thừa nhận đã thực hiện hành vi cãi lộn nên có lời nói và hành động không chuẩn mực với khách đến tại quán C3 của anh Nguyễn Xuân T3 khi có đông người tại quán, có xảy ra xô xát dẫn đến bị cáo có vết tổn thương trên mặt, bị cáo dùng chìa khóa chọt vào vùng mặt và người anh L2 nhưng sự việc diễn ra nhanh, thời gian ngắn nên xét xử bị cáo tội “Gây rối trật tự công cộng” là quá nặng, nếu có tội thì là tội gây thương tích cho anh L2, bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử không xử bị cáo về tội “gây rối trật tự công cộng”, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ vì bị cáo công việc làm tại Hội giáo xứ để bị cáo có cơ hội tiếp tục làm việc. Bị cáo đồng ý với với lời tranh luận của người bào chữa.

Tại phiên tòa bị cáo C thừa nhận đã có hành vi cãi lộn, gây rối tại quán C3 và bị cáo đã có hành vi đuổi đánh anh Cao Bá P. Ngoài ra bị cáo khai bị cáo D đã có hành vi cãi lộn, thách thức với nhân viên bảo an của quán và bị cáo C cùng tham gia cãi cọ, sau đó đuổi đánh anh P đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo, bị cáo nhận thức bị cáo có hành vi phạm tội gây rối trật tự không oan, bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nên bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được phạt hành chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo các bị cáo Nguyễn Văn D, Cao Đức C được gửi trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Việc kháng cáo của bị cáo là đúng quy định tại Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Cao Đức C khai nhận hành vi của mình phù hợp với với các lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị cáo D, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng trong vụ án, Biên bản làm việc, Báo cáo tình hình an ninh trật tự; Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Văn D, Nguyễn Thức L2, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp phù hợp với nội dung Cáo trạng, có căn cứ kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/7/2023, tại quán ăn uống, giải trí, âm nhạc Chirita37 của anh Nguyễn Xuân T3 (thuộc khu vực xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Văn D cùng nhóm bạn của mình trong đó có Cao Đức C ngồi nghe nhạc và uống bia tại quán. Sau đó D đã chủ động sang bàn bên cạnh của anh H và đã có những lời lẽ thiếu tôn trọng đối với các khách khác của quán, cãi lộn xô xát với một số thanh niên làm nhiệm vụ bảo an của quán. Lúc này anh Nguyễn Thức L2 ngăn cản và khuyên D ra về. Do bị cáo Dương N2 anh L2 ngăn cản nên đã có hành vi sử dụng chìa khóa bằng kim loại, kẹp giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa chọt liên tiếp 03 phát vào vùng mặt và người anh Nguyễn Thức L2 khiên anh L2 bị ngã xuống sàn; Cao Đức C tham gia cãi lộn và có hành vi rượt đuổi, dùng tay đánh vào người của anh Cao Bá P nhưng sau đó được anh Đậu Ánh H và chị Phan Thị T1 can ngăn nên mới dừng lại.

Đến 23 giờ cùng ngày, nhận được tin báo: Công an huyện D đã triển khai lực lượng giải tán đám đông và đưa các đối tượng liên quan về trụ sở làm việc.

Như vậy tại quán nơi đông người, Nguyễn Văn D đã có lời nói, hành vi không chuẩn mực với người khác, cãi cọ, xô xát tại nơi công cộng. D và Cao Đức C đã có hành vi tấn công người khác làm ảnh hưởng đến trật tự bình thường, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự an ninh trên địa bàn.

Quá trình điều tra bị cáo D đầu thú khai nhận hành vi của mình phù hợp lời khai của bị cáo Chung, người bị hại, người làm chứng, ngoài ra bị cáo D còn bồi thường thiệt hại cho người bị hại; có Biên bản sự việc ngày 29/7/2025 tại khu vui chơi giải trí Chirita 37 thuộc xóm F, xã D, huyện D, Báo cáo về tình hình trật tự của Công an xã D, huyện D ngày 29/7/2023 và Báo cáo về tình hình an ninh trật tự ngày 30/7/2023 của Ban Q, phù hợp với lời khai của bị cáo D tại phiên tòa phúc thẩm nên không cần thiết phải tiến hành đối chất theo ý kiến của người bào chữa.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn D, Cao Đức C về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ. Đối với Nguyễn Văn D, bị cáo sử dụng chìa khóa xe mô tô bằng kim loại gắn trên phần nhựa chọt vào mặt và người của anh Nguyễn Thức L2 gây ra các vết thương trên cơ thể anh L2 nên Cấp sơ thẩm xác định bị cáo D dùng chìa khóa là hung khí nguy hiểm để tấn công người khác là đúng; bị cáo có tiền án về tội gây rối trật tự công cộng chưa được xóa án tích. Vì vậy, cấp sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 và điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS là có căn cứ, không xét xử oan. Nên không có cơ sở chấp nhận ý kiến hủy bản án sơ thẩm của người bào chữa, bị cáo D và không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo về tội danh.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn D cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện đầu thú tại cơ quan điều tra; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường khắc phục những thiệt hại cho người liên quan; Anh Nguyễn Thức L2 có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, mức án 03 tháng tù đối với tội “Gây rối trật tự công cộng” là mức án thấp nhất trong quy định về hình phạt tù có thời hạn.

Về tình tiết tăng nặng: Tại tại Bản án số 41/2022/HSST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám ) tháng. Do bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo là tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.

Cấp sơ thẩm áp dụng quy định tại khoản 5 điều 65 BLHS để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của Bản án số 41/2022/HSST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu là 09 (chín) tháng tù. Đồng thời áp dụng quy định tại điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt của bản án này buộc bị cáo D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 tháng tù là đúng quy định. Không có cơ sở để xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo hoặc cải tạo ko giam giữ như bị cáo D trình bày.

Đối với bị cáo Cao Đức C cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Người liên quan anh Nguyễn Thức L2 không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo hưởng án treo. Mặc dù tại cấp phúc thẩm bị cáo có tình tiết mới là thành tích giấy khen trong quá trình công tác, gia đình bị cáo có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nhưng do cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức hình phạt là mức thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vì vậy, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, bị cáo Cao Đức C; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2] - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 khoản 2 Điều 56; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của tại Bản án số 41/2022/HSST ngày 12/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An là 9 (C2) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án;

- Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Cao Đức C 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Cao Đức C về cho Công an nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Văn D, Cao Đức C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Công an, UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 96/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên Văn D và đồng phạm phạm tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger