Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HS-PT

Ngày 28-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Lam

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 115/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Trần Hữu T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9- Gia Lai.

* Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Trần Hữu T, sinh ngày 22/4/1989 tại Gia Lai, nơi cư trú: Thôn B, xã I (tên gọi cũ là xã I, huyện I), tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...]; trình độ học vấn: 9/12, nghề nghiệp: Lái xe, con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963 và bà Trần Thu T1, sinh năm 1968, có vợ là Nguyễn Trần Như N, sinh năm 1990 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: Không; tiền sự: Không, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  2. Nguyễn Quang T2, sinh ngày 01/01/1985 tại Gia Lai, nơi cư trú: Thôn C, xã I (tên gọi cũ là là xã I, huyện I), tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...], cấp ngày 18/12/2022; trình độ học vấn: 3/12, nghề nghiệp: Buôn bán, con ông Nguyễn Quang L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Phúc M, sinh năm: 1960, có vợ là Đặng Thị Mai L1, sinh năm: 1989 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  3. Nguyễn Thị N1, sinh ngày 01/01/1978 tại tỉnh Gia Lai, nơi cư trú: Thôn D, xã I (tên gọi cũ là là xã I, huyện I), tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...], cấp ngày 14/01/2022; trình độ học vấn: 2/12, nghề nghiệp: Buôn bán, không xác định được cha, con bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1958, có 02 người con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2007; tiền án: Không, tiền sự: Không, nhân thân: Tại Bản án số 51/2018/HS-PT ngày 06/11/2018 của TAND tỉnh Gia Lai xử phạt 03 tháng tù cho hưởng án treo về tội đánh bạc (đã chấp hành xong), bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

  4. Nguyễn Hữu T3, sinh ngày 17/9/1985 tại tỉnh Gia Lai, nơi cư trú: Thôn C, xã I (tên gọi cũ là xã I, huyện I), tỉnh Gia Lai; số CCCD: [...], cấp ngày 19/4/1985; trình độ học vấn: 5/12, nghề nghiệp: Làm nông, con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và bà Huỳnh Thị Đ1 (đã chết), có vợ là Huỳnh Thị N3, sinh năm 1987, có 02 người còn, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang T2: Luật sư Đinh Xuân T4 – Văn phòng L2.

Địa chỉ: B L, phường B, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 6/2024, trong một lần uống cà phê tại thôn B, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì Nguyễn Trần Hữu T gặp một người tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), người tên H đã bắt chuyện và đặt vấn đề với T việc sẽ cung cấp cho T tài khoản tên “J11U0C01” để vào trang Wed www.hira88.com hệ thống đánh bạc cá độ bóng đá trên mạng, T và H thống nhất Trí sẽ làm đại lý và nhận tiền cá độ bóng đá trực tiếp từ các con bạc theo giải bóng đá vô địch C năm 2024 (Euro 2024), sau khi ăn thua sẽ giao lại tiền cho H và nhận tiền chia hoa hồng 5%. Sau khi nhận tài khoản từ H thì T đã đăng nhập vào trang Wed bằng điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro và máy tính xách tay hiệu D sau đó đổi tên đăng nhập từ “J11U0C01” thành “TMTgialai” và chia thành nhiều tài khoản khác nhau để chia cho người tham gia cá độ đá bóng và từ đó ăn hoa hồng của H. T đã cung cấp tài khoản thành viên đã chia cho Nguyễn Quang T2, Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Thị N1 để tham giá cá độ bóng đá từ ngày 14/6/2024 đến ngày 06/7/2024 với hình thức đánh bạc ăn tiền như sau: “T5-xỉu” theo tổng số bàn thắng của trận đấu với số mà “nhà cái” đưa ra mà trên tài khoản đã ghi sẵn; “T5-xỉu” theo tỉ số “Hiệp 1” hoặc “cả trận”, theo “tổng số lần phạt góc” trong trận, theo “số lượt thẻ phạt” trong trận; “cược chấp” đội nào thắng, đội nào thua; “cược tỷ số chính xác” của trận đấu, đưa ra con số chính xác về tỷ số của hai đội, những hình thức này hiện sẵn trên trang mạng www.hira88.com và tài khoản thành viên mà T đã cung cấp cho N1, T2, T3. Khi được T cung cấp tài khoản và điểm “đô” thì các con bạc là N1, T2, T3 chỉ việc chọn và đưa ra số điểm, tức là số tiền tương ứng bỏ ra để cược, kết quả trả về thắng – thua hoặc hòa như thế nào đã thể hiện sẵn trên tài khoản và chỉ cần nhìn vào số điểm là biết. Theo thỏa thuận thì N1, T3, T2 đều không phải đặt cọc tiền để lấy tài khoản, số tiền thắng thua trong quá trình cá độ bóng đá sẽ thanh toán với T vào ngày thứ hai của tuần kế tiếp hoặc sẽ tổng hợp và thỏa thuận với nhau.

Quá trình điều tra xác định các tài khoản thành viên mà T đã tạo ra và cung cấp cho N1, T2, T3 có số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền T thu lợi bất chính như sau:

  • - Tài khoản J11U0C01000, T cấp cho N1 để tham gia cá độ bóng đá trên mạng, T và N1 thống nhất tính 1 điểm trên mạng là 40.000 đồng (hay gọi là đô 40 nghĩa là mối điểm thắng thua trên tài khoản này tính ra tiền mặt bằng 40.000 đồng). Căn cứ vào bảng sao kê lịch sử cá độ bóng đá của N1 xác định từ ngày 14/6/2024 đến ngày 06/7/2024 N1 đã có 225 lượt thao tác cá cược 45 trận (N1 sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO và máy tính xách tay hiệu HP để đăng nhập vào tài khoản). Trong đó, có 33 trận đấu có số tiền N1 dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (trận cược cao nhất là 23.040.000 đồng, tiền thắng là 20.416.000 đồng). Tổng số tiền thắng cá độ là 114.848.000 đồng, tổng số tiền thua là 136.534.000 đồng, số tiền thua thực tế là 21.686.000 đồng. N1 đã trả cho T 11.000.000 đồng và còn nợ lại 10.686.000 đồng.
  • - Tài khoản J11U0C01002 T cấp cho T3 để tham gia cá độ bóng đá trên mạng, T và T3 thống nhất tính 1 điểm trên mạng là 100.000 đồng (hay gọi là đô 100, nghĩa là mỗi điểm thắng thua trên tài khoản này tính ra tiền mặt bằng 100.000 đồng). Căn cứ vào bảng sao kê lịch sử cá độ bóng đá của T3 xác định từ ngày 14/6/2024 đến ngày 06/7/2024 T3 đã có 283 lượt thao tác cá cược trong 31 trận (T3 sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A50s để đăng nhập vào tài khoản). Trong đó, có 25 trận đấu có số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng (trận cược cao nhất là 31.500.000 đồng, tiền thắng là 11.775.000 đồng). Tổng số tiền thắng qua các trận là 108.450.000 đồng, tổng số tiền thua cược là 173.635.000 đồng, số tiền thua thực tế là 65.185.000 đồng. T3 đã trả T 5.185.000 đồng và còn nợ lại 60.000.000 đồng chưa thanh toán.
  • - Tài khoản J11U0C01004, T cấp cho T2 để tham gia cá độ đá bóng trên mạng, T và T2 thống nhất tính 1 điểm trên mạng là 100.000 đồng (hay gọi là đô 100, nghĩa là mỗi điểm thắng thua trên tài khoản này tính ra tiền mặt bằng 100.000 đồng). Căn cứ vào bảng sao kê lịch sử cá độ bóng đá của T3 xác định từ ngày 14/6/2024 đến ngày 06/7/2024 T2 đã có 99 lượt thao tác cá cược trong 24 trận (T2 sử dụng điện thoại di động S để đăng nhập vài tài khoản). Trong đó, có 05 trận đấu có số tiền dùng để đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, 19 trận đấu T2 sử dụng số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng (trận cược cao nhất là 200.000.000 đồng, tiền thắng là 146.000.000 đồng). Tổng số tiền thắng qua các trận là 715.850.000 đồng, tổng số tiền thua 805.990.000 đồng, số tiền thua thực tế phải trả cho T là 90.140.000 đồng. T2 chưa thanh toán tiền thua cược cho T.

T chưa đối chiếu thanh toán tiền thắng thua với đối tượng tên H.

Đến ngày 07/7/2024 khi biết Công an huyện đang điều tra các vụ đánh bạc trên địa bàn huyện I thì Nguyễn Trần Hữu T, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Hữu T3 và Nguyễn Quang T2 đã ra đầu thú khai nhận hành vi và giao nộp các vật chứng để phục vụ công tác điều tra.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trần Hữu T phạm “Tội tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Quang T2, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Hữu T3 phạm “Tội đánh bạc”.

  • - Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 322; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hữu T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
  • - Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 321; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T2 mức án 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
  • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T3 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.

Ngoài ra, bản án còn tuyên hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định.

3. Kháng cáo của các bị cáo:

Ngày 11/8/2025 và ngày 04/9/2025, bị cáo Nguyễn Quang T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.

Ngày 13/8/2025, các bị cáo Nguyễn Hữu T3 và Nguyễn Thị N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 14/8/2025, bị cáo Nguyễn Trần Hữu T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xác nhận cấp sơ thẩm xử đúng tội, các bị cáo T, T2, T3 và N1 đều bổ sung tài liệu mới là Biên lai nộp tiền phạt bổ sung và nộp án phí, đơn xin giảm nhẹ hình phạt và đơn xác nhận là người lao động chính trong gia đình. Bị cáo T rút kháng cáo xin được hưởng án treo, các bị cáo còn lại giữ nguyên nội dung kháng cáo về phần hình phạt.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; điểm a, b, đ khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trần Hữu T; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trần Hữu T và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T2, giảm hình phạt cho các bị cáo, do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Hữu T3, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm, buộc các bị cáo chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo T2: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm t, u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng thêm điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trần Hữu T rút kháng cáo về nội dung xin được hưởng án treo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, Hội đồng xét xử đã giải thích cho bị cáo về hậu quả của việc rút kháng cáo, bị cáo giữ nguyên ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo này của bị cáo.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Theo bản án sơ thẩm khoảng tháng 6/2024 bị cáo Nguyễn Trần Hữu T đã nhận tài khoản “J11U0C01”, đổi tên đăng nhập thành “TMTgialai” rồi phân chia thành nhiều tài khoản khác nhau. T giao tài khoản “J11U0C01000” cho Nguyễn Thị N1 với quy ước “Đô 40”, giao tài khoản “J11U0C01002” cho Nguyễn Hữu T3 với quy ước “Đô 100” và giao tài khoản “J11U0C01004” cho Nguyễn Quang T2 với quy ước “Đô 100”. Sau khi nhận tài khoản, các bị cáo N1, T3, T2 đã sử dụng phương tiện điện tử có kết nối mạng internet để đánh bạc nhằm thu lợi. Tổng số tiền chênh lệch thắng thua các con bạc phải trả cho T là 177.011.000 đồng, bị cáo thực nhận số tiền 16.185.000 đồng.

Tài khoản J11U0C01000 của bị cáo N1 có 33 trận đấu có số tiền đánh bạc trong từng trận đấu từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

Tài khoản J11U0C01002 của bị cáo T3 có 25 trận đấu có số tiền đánh bạc trong từng trận đấu từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

Tài khoản J11U0C01004 của bị cáo T2 có 05 trận đấu có số tiền đánh bạc trong từng trận đấu từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng và 19 trận đấu có số tiền đánh bạc trong từng trận đấu trên 50.000.000 đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Nguyễn Trần Hữu T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b, c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Quang T2 về tội “Đánh bạc” theo điểm b, c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và các bị cáo Nguyễn Thị N1, Nguyễn Hữu T3 về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều xác nhận cấp sơ thẩm xử đúng hành vi của các bị cáo, đúng tội, không kháng cáo phần này. Do đó, phần tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo đã có hiệu lực pháp luật, cấp phúc thẩm không xem xét.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:

[3.1] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo T3, N1, T2 và kháng cáo xin chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn của bị cáo T2:

Bị cáo T2, T3, N1 phạm tội “Đánh bạc” là nghiêm trọng, là nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội. Các bị cáo đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên, các bị cáo cá cược nhiều trận đấu có số tiền đánh bạc và thu lợi lớn như bị cáo N1 cược 33 trận tổng số tiền thắng cá độ là 114.848.000 đồng, tổng số tiền thua là 136.534.000 đồng; bị cáo T3 cược 25 trận tổng số tiền thắng qua các trận là 108.450.000 đồng, tổng số tiền thua cược là 173.635.000 đồng; bị cáo T2 cược 24 trận tổng số tiền thắng qua các trận là 715.850.000 đồng, tổng số tiền thua 805.990.000 đồng, số tiền bị cáo T đưuọc hưởng 177.011.000 đồng. Bản thân bị cáo N1 ngoài lần phạm tội này đã bị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Cho thấy việc cho các bị cáo cải tạo tại địa phương là có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an. Cần thiết buộc các bị cáo chấp hành án tại cơ sở giam giữ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Vì vậy kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo cũng như kháng cáo xin chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn của bị cáo T2 không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo:

Đối với bị cáo Nguyễn Trần Hữu T và Nguyễn Quang T2: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T nộp Biên lai thu tiền phạt bổ sung số tiền 35.000.000đ và Đơn xác nhận của UBND xã bị cáo lao động chính trong gia đình, bị cáo T2 nộp Biên lai thu tiền phạt bổ sung số tiền 25.000.000₫ đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo T2 đã nộp đơn xin xác nhận của Công an xã I có nội dung từ thông tin tố giác tội phạm của bị cáo đã bắt được 02 đối tượng Tổ chức sử dụng ma túy và 01 đối tượng mua bán ma túy, do không có quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can nên chỉ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, ý thức của các bị cáo biết ăn năn hối cải, chấp hành bản án sơ thẩm đã tuyên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, T2 giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị N1 và bị cáo Nguyễn Hữu T3: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo N1 nộp một phần tiền phạt bổ sung 2.000.000 đồng và án phí, bị cáo T3 nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Xét khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo xử các bị cáo mức án khởi điểm của khung hình phạt nên cho dù có phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới cũng không thể tiếp tục giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt mới đủ thời gian cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo N1, T3 giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T, T2 sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T, T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo N1, T3 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 342; điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trần Hữu T.

  2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Hữu T3 giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai về phần hình phạt.

    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T3 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
  3. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trần Hữu T, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang T2 sửa bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Gia Lai về phần hình phạt.

    • - Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 322; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hữu T 38 (ba mươi tám) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
    • - Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 321; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T2 mức án 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2024 đến ngày 06/8/2024.
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:

    Các bị cáo Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Hữu T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Gia Lai;
  • - THADS tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 9;
  • - TAND khu vực 9;
  • - Phòng THADS KV 9
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu VT, THS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phạm Duy Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/HS-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm (tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 96/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án, giảm hình phạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger