|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HS-PT Ngày: 20-6-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan và ông Vũ Đức Hùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2025/TLPT-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo Phan Thị H, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
- Bị cáo bị kháng cáo: Phan Thị H, sinh năm 1948, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan S và bà Huỳnh Thị T (đều đã chết); có chồng Trần Văn N (chết) và 08 con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; bị cáo tại ngoại; vắng mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1985; có mặt.
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Tuấn A, sinh năm 1998; vắng mặt.
- Ông Trần Văn T2, sinh năm 1989; vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng: Ông Đào Văn D, sinh năm 1969;
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 21/02/2023, Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A, cùng trú tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận trồng trụ rào thuê cho Phan Thị H trên thửa đất của bà H tại thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Do bà H có dặn là nếu thấy người nào mặc đồ bảo vệ thì báo cho bà H biết để bà H ra nói chuyện vì người này thường phá hoa màu, tài sản trên đất của bà H. Đến khoảng 07 giờ 30 cùng ngày, khi thấy Nguyễn Thành V, trú tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (là nhân viên bảo vệ) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72G-752.33 đi tuần tra tại dự án Khu D thuộc thôn P, xã T, huyện H (gần đất bà H) thì Tuấn A và T2 chặn xe mô tô của V lại đồng thời điện thoại báo cho bà H biết. Bà H nói con rể là Nguyễn Anh D1 (thôn G, xã T, H) đi ra trước xem thế nào còn bà H đi theo sau. Lúc này, V cũng điện thoại cho Trần Văn T1, trú tại thôn G, xã T, huyện H (con ruột bà H, cũng là đồng nghiệp của V) đến hiện trường.
D1 cầm theo 01 đoạn cây gỗ dài khoảng 01m, đường kính khoảng 04cm đi đến nơi. D1 hỏi V về việc phá hoa màu của bà H, rồi cầm cây gỗ đánh V nhưng T1 can ngăn nên không đánh được. Thấy xe mô tô 72G-752.33 của V nằm ngã dưới đất, D1 cầm cây đập 01 cái vào xe mô tô. Khi V bỏ chạy, D1 cầm cây đuổi theo khoảng 10m thì V té ngã xuống đất, D1 cầm cây đánh nhiều cái vào người V gây thương tích. Sau đó, V chụp được đầu cây và đứng dậy bỏ chạy, D1 không đuổi theo nữa mà cầm cây đi về nhà, trên đường đi đã vứt bỏ cây gỗ trên. Do trước đó Phan Thị H có dặn khi nào thấy T1 thì chặn lại cho H nói chuyện về việc nhổ trụ rào, phá hoa màu của H nên T2 và Tuấn A có chặn T1 lại, không cho T1 rời khỏi hiện trường để đợi bà H đến nói chuyện.
Do già yếu nên một lúc sau bà H mới đi tới nơi. Lúc này, D1 đã đánh V và đi về, bà H đã dùng cây gỗ đập nhiều cái vào xe mô tô 72G-752.33 của V thì có người can ngăn giật lấy cây gỗ. Bà H và T1 (con ruột bà H) xảy ra cự cải, Trung định xông vào đánh bà H thì Tuấn A và T2 can ngăn, ôm giữ lại. Bực tức vì T1 là con ruột mà đòi đánh mình nên bà H nhặt 01 đoạn cây keo tràm khô dài khoảng 01m, to bằng ngón tay cái đánh 02 đến 03 cái trúng vào trán của T1 gây thương tích, Trung giật lấy được đoạn cây keo tràm rồi bà H bỏ về nhà.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 229/KLTTCT-TTPYBT ngày 22/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Trần Văn T1 như sau:
- Vết thương phần mềm vùng trán bên phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo lành kích thước 1,5 x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
- Đa vết sưng nề bầm tím cẳng tay trái và phải hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Văn T1 tại thời điểm giám định là 3%. Vết thương do vật tày có cạnh gây ra; vết thương có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 200/KLTTCT-TTPYBT ngày 17/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Thành V như sau:
- Vết thương phần mềm mặt sau ngoài khuỷu tay trái hiện còn 03 mũi chỉ dài 2,5 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
- Vết thương phần mềm 1/3 trên mặt trước cẳng chân phải hiện đóng vảy màu nâu kích thước 3,5 x 0,4 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
- Sưng nề bầm tím cẳng tay trái, mông trái hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ sở xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Thành V tại thời điểm giám định là 3%. Các vết thương do vật tày có cạnh gây ra; Các vết thương có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 24/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- Thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 72G1-752.33 là 1.540.000 đồng
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo 5A: không có cơ sở định giá.
Ngày 15/4/2023, Trần Văn T1 và Nguyễn Thành V có đơn yêu cầu khởi tố. Ngày 07/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với Nguyễn Anh D1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Đến ngày 11/8/2023, Nguyễn Thành V rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan điều tra đã đình chỉ điều tra đối với Nguyễn Anh D1.
* Vật chứng vụ án gồm:
- 01 USB chứa đoạn video trích xuất từ camera gần hiện trường ghi lại diễn biến sự việc đã được đưa vào hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 đoạn cây keo tràm khô dài khoảng 01m to bằng ngón tay cái mà bị cáo Phan Thị H sử dụng đánh T1 hiện không thu giữ được và 01 đoạn cây gỗ dài khoảng 01m đường kính khoảng 04cm mà D1 sử dụng để đánh V, trên đường đi bộ về nhà D1 đã vứt cây gỗ trên hiện không thu giữ được.
- Xe mô tô biển kiểm soát 72G-752.33 đã trả lại cho Nguyễn Thành V.
Sau khi xảy ra sự việc, Trần Văn T1 có giao nộp 01 cây tre hình tròn dài khoảng 1,2m và trình bày đây là hung khí mà H sử dụng đánh T1 nhưng qua trình điều tra xác định đây không phải là hung khí mà H sử dụng gây án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra quyết đinh trả lại cho Trần Văn T1.
* Về phần dân sự: Trần Văn T1 yêu cầu bị cáo Phan Thị H phải bồi thường với tổng số tiền 115.480.000 đồng; Yêu cầu Trần Văn T2 phải bồi thường số tiền 2.105.500.000 đồng; Yêu cầu Đặng Tuấn A phải bồi thường số tiền 100.000.000 đồng.
Riêng Nguyễn Anh D1 đã bồi thường cho Nguyễn Thành V số tiền 45.000.000 đồng là chi phí điều trị thương tích và sửa chữa xe mô tô 72G-752.33, hiện anh V không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân quyết định:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phan Thị H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 19/3/2025).
Giao bị cáo Phan Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lí vật chứng; án phí và quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Ngày 08/4/2025, bị hại Trần Văn T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị hại Trần Văn T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, Không chấp nhận kháng cáo của bị hại, Trần Văn T1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị hại làm trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại có kháng cáo đồng ý với tội danh và hình phạt của bị cáo như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Căn cứ lời khai nhận của bị cáo đã có trong hồ sơ vụ án phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do tức giận khi Trần Văn T1 là con ruột của bị cáo mà chửi bới, xúc phạm bị cáo nên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 21/02/2023, bị cáo Phan Thị H đã dùng đoạn cây keo tràm là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng trán của Trần Văn T1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân bị cáo xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Người bị hại Trần Văn T1 có kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm đã bỏ lọt tội phạm, gạt bỏ bớt các tình tiết có lợi cho hung thủ. Đồng thời cho rằng Hội đồng xét xử sơ thẩm xét xử vắng mặt ông là không đúng vì ông không nhận được Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
[3.1]. Xét kháng cáo của người bị hại Trần Văn T1, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1.1]. Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, bị hại Trần Văn T1 nhiều lần vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân không thể hiện được việc tống đạt hợp lệ cho ông Trần Văn T1 nên tại phiên tòa xét xử ngày 20/02/2025 Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiếp tục ra quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ ngày 20/02/2025 và ấn định ngày giờ xét xử lại vụ án. Quyết định này đã được tống đạt hợp lệ cho ông Trần Văn T1. Tuy nhiên, vào ngày xét xử lại vụ án ông Trần Văn T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Trần Văn T1 vì xét thấy việc vắng mặt bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[3.1.2]. Đối với việc ông Trần Văn T1 cho rằng Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã bỏ lọt tội phạm là ông Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A về tội “Cố ý gây thương tích”. Bỏ lọt bà Trần Thị L và ông Nguyễn Anh D1 (chồng bà L), ông Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, “Gây rối trật tự công công”; đề nghị truy tố bị cáo Phan Thị H, ông Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A về tội “Cướp tài sản” tại các Điều 123, 168, 157 theo Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015. Hội đồng xét xử xét thấy:
- Bị cáo Phan Thị H không bàn bạc trước với Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A về việc gây thương tích cho Trần Văn T1. T2 và Tuấn A chỉ ôm, can ngăn T1 khi hai mẹ con xảy ra cự cãi và chuẩn bị xô xát nên T2 và Tuấn A không đồng phạm với Phan Thị H trong việc gây thương tích cho Trần Văn T1.
- Hành vi trên của Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A cũng không phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo Điều 157 Bộ luật Hình sự. Đồng thời cũng không có căn cứ xác định bà Trần Thị L, ông Nguyễn Anh D1 (chồng bà L) là đồng phạm với Trần Văn T2 và Đặng Tuấn A trong tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Gây rối trật tự công công” như kháng cáo của người bị hại.
- Trần Văn T1 khai trong lúc xảy ra xô xát, Trần Văn T2 đã lấy điện thoại hiệu Oppo 5A của T1 đưa cho Phan Thị H đập nhưng quá trình điều tra không chứng minh được có sự việc trên nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với Trần Văn T2 và Phan Thị H đối với tội danh này là phù hợp.
- Đối với hành vi của Nguyễn Anh D1 và Phan Thị H cùng đập phá xe mô tô biển kiểm soát 72G-752.33 của Nguyễn Thành V gây thiệt hại về tài sản 1.540.000 đồng là chưa đủ định lượng xét xử hình sự và không có yếu tố định tội khác nên hành vi của D1 và H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
[3.1.3]. Đối với việc bị hại cho rằng vật chứng trong vụ án không phải là cây keo lá tràm mà là cây tre tầm vong mà bị hại đã giao nộp cho cơ quan công an. Tuy nhiên, xét thấy việc hung khí gây án là cây keo lá tràm hay cây tre tầm vong cũng không ảnh hưởng đến cấu thành tội phạm trong vụ án này. Bởi lẽ cây keo lá tràm hay cây tre tầm vong bị cáo giao nộp thì cũng đều được xác định là hung khí nguy hiểm như nhau. Quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh cây tre tầm vong mà bị hại đã giao nộp là hung khí gây án mà qua kết luận giám định, cơ chế hình thành vết thương, tỷ lệ thương tật 3% mà bị cáo gây ra cho bị hại cho thấy vết thương của bị hại phù hợp với hung khí gây án là cây keo lá tràm như lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp.
[3.2]. Đối với phần yêu cầu bồi thường dân sự: Người bị hại không có ý kiến gì về việc này nên Hội đồng xét xử không xét. Đồng thời tại bản án sơ thẩm do người bị hại vắng mặt tại phiên tòa và tài liệu chứng cứ về yêu cầu bồi thường dân sự người bị hại cung cấp trong hồ sơ chỉ là bản photo nên để đảm bảo quyền lợi cho người bị hại cấp sơ thẩm đã tách phần dân sự ra khỏi vụ án hình sự là đảm bảo quyền lợi cho người bị hại. Người bị hại có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự khác theo quy định pháp luật.
[3.3] Những vấn đề còn lại người bị hại trình bày trong đơn kháng cáo là các tranh chấp dân sự và mối quan hệ mâu thuẫn khác của bị hại không liên quan đến việc cấu thành tội phạm trong vụ án hình sự nên Tòa án không xem xét.
[3.4]. Sau khi xem xét toàn bộ tài liệu chứng cứ và lời phát biểu tranh luận của các bên liên quan, xét kháng cáo của người bị hại là không có cơ sở chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Đây là vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại nên người bị hại kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trần Văn T1. Giữ nguyên bản án hính sự sơ thẩm số 12/2025/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
[1] Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phan Thị H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án (Ngày 19/3/2025).
Giao bị cáo Phan Thị H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Thị H.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội người bị hại Trần Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 20/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 96/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 96/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phan Thị H phạm tội "Cố ý gây thương tích"
