|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HNGĐ - ST Ngày: 30/5/2025 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Thanh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Trần Văn Phước
Ông Trần Thanh Tuấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long: Bà Nguyễn Yến Phi - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 68/2025/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Quách K, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu
- Bị đơn: Chị Lâm Thị Hồng N, sinh năm 2001; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu
(Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt; chị N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Quách K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Quách K và chị Lâm Thị Hồng N xây dựng hôn nhân năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có đi đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn 04/6/2019. Quá trình chung sống vợ chồng anh K, chị N xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hiểu nhau, không thông cảm cho nhau. Hiện nay, anh K nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh K yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với chị Lâm Thị Hồng N
Về con chung: Quá trình chung sống anh K và chị N có 01 người con chung là tên Quách Bảo L, sinh ngày 13/10/2019. Khi ly hôn anh K đồng ý tiếp tục giao con cho chị N nuôi, không yêu cầu xem xét giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn chị Lâm Thị Hồng N đã được Toà án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cư; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên toà theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị N vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Toà án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
+ Về hôn nhân: Anh Quách K và chị Lâm Thị Hồng N có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa anh K và chị N là hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho anh Quách K được ly hôn với chị Lâm Thị Hồng N
+ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Quách Bảo L cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị N có, quyền và nghĩa vụ thăm mon con chung không ai được quyền cản trở.
+ Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. giải quyết.
+ Về án phí: anh Quách K phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về Thủ tục tố tụng: Anh Quách K có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với chị Lâm Thị Hồng N, chị N có địa chỉ tại huyện P. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh K có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K, chị N là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Quách K và chị Lâm Thị Hồng N xây dựng hôn nhân năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, do đó hôn nhân của anh K và chị N là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh K và chị N cả hai đều bỏ mặt nhau không gặp nhau để hàn gắn lại hôn nhân, anh K xác định không còn tình cảm với chị N, không thể tiếp tục chung sống với nhau được. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa anh K, chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Quách K, cho anh K được ly hôn với chị Lâm Thị Hồng N
[3] Về con chung: Quá trình chung sống giữa anh K và chị N có 01 người con chung là Quách Bảo L, sinh ngày 13/10/2019. Khi ly hôn anh K đồng ý tiếp tục giao cháu L cho chị N tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng..
Căn cứ khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Chị N hiện nay đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu cháu L. Xét thấy, hiện nay cháu L do chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tâm sinh lý phát triển bình thường nhằm đảm bảo không làm xáo trộn đời sống của cháu L nên chấp nhận yêu cầu của anh K, tiếp tục giao cháu Quách Bảo L, sinh ngày 13/10/2019 cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
[5] Từ những phân tích trên xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Quách K phải chịu 300.000 đồng án phí không giá ngạch.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Quách K, cho anh Quách K ly hôn với chị Lâm Thị Hồng N
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Quách Bảo L, sinh ngày 13/10/2019 cho chị Lâm Thị Hồng N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết do không có yêu cầu.
4. Về án phí: Anh Quách K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng. Anh Quách K đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003226 ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án. Chị Lâm Thị Hồng N không phải chịu án phí.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính kể từ ngày nhận hoặc niêm yết công khai bản án./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thanh Liêm |
|
Các Hội thẩm nhân dân Trần Văn Phước Mai Quốc Bảo |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Triệu Thanh Liêm |
Bản án số 96/2025/HNGĐ - ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 96/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
