TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 3 - 2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Thái Thị Hồng Vân |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Hồ Bá Võ |
| Ông Mai Xuân Thường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 505/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024, về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1993. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Nguyên B, sinh năm 1983. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hồ Thị D, sinh năm 1951. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Đài Loan.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, nội dung trình bày tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:
Chị và anh Lê Nguyên B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2014, tại Ủy ban nhân dân xã N (Nay là xã T), huyện N, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và ở cùng gia đình anh B. Sau khi chị sinh con thứ hai một thời gian thì anh B đi lao động ở Đài Loan. Năm 2020, anh B về nước khoảng 10 ngày rồi tiếp tục đi Đài Loan. Sau đó hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống trái ngược nhau và không còn nói chuyện với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Nguyên B.
Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị X và anh Lê Nguyên B có 02 con chung là Lê Thị Phương T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2015 và Lê Thị Phương T1, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2018. Hiện nay cháu T ở với bà D, cháu T1 đang ở với chị X; Ly hôn chị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Lê Nguyên B: Quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, bị đơn là anh Lê Nguyên B vắng mặt. Chị Nguyễn Thị X không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh B cư trú, chị X chỉ biết hiện nay anh B đang sinh sống tại Đài Loan. Tòa án đã hai lần gửi văn bản yêu cầu bà Hồ Thị D (Là mẹ đẻ của anh B), trú tại: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An; cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cũng như yêu cầu bà D thông báo với anh B để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, tại đơn trình bày bà D cho biết thời gian ở nước ngoài, anh B thường liên lạc về với gia đình qua Z, còn địa chỉ cụ thể của anh B thì anh B không cung cấp nên bà không biết. Bà đã thông báo cho anh B biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị X và anh B. Thông qua bà thì anh B đồng ý ly hôn với chị X.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị D trình bày:
Con trai của bà là anh Lê Nguyên B kết hôn với chị Nguyễn Thị X trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, giữa hai con có 02 con chung là cháu Lê Thị Phương T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2015 và cháu Lê Thị Phương T1, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2018. Hiện nay, cháu T ở với bà D, cháu T1 đang ở với chị X. Vừa qua, bà D biết vợ chồng con trai bà sống không hạnh phúc, về tình cảm của hai đứa do hai đứa quyết định, bà cũng không có ý kiến gì. Còn cháu Lê Thị Phương T sống cùng bà từ khi hai tuổi đến bây giờ, nay vợ chồng con ly hôn thì bà không yêu cầu cả hai vợ chồng chi trả tiền công cũng như chi phí nuôi dưỡng cháu T từ trước cho đến nay, việc bà nuôi dưỡng, chăm sóc cháu là xuất phát từ tình cảm, tự nguyện. Nguyện vọng của bà là được nuôi cháu Lê Thị Phương T.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị X ly hôn với anh anh Lê Nguyên B. Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Lê Thị Phương T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2015 và Lê Thị Phương T1, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu nên không xem xét; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu. Về án phí: Giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị X hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Nguyên B hiện cư trú ở nước ngoài; Trước khi xuất cảnh, anh B có địa chỉ cư trú tại xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Lê Nguyên B vắng mặt, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu bà Hồ Thị D (Là mẹ đẻ của anh B) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh B biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, bà D không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh B. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh B liên quan đến yêu cầu khởi kiện, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung, Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh B trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Lê Nguyên B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/7/2014, tại Ủy ban nhân dân xã N (Nay là xã T), huyện N, tỉnh Nghệ An là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không phù hợp dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa hợp. Hiện nay chị X đang ở Việt Nam, còn anh B đang sống và làm việc tại nước Đài Loan. Từ khi đi nước ngoài một thời gian anh B không còn liên lạc về cho chị X. Xét thấy, chị X và anh B không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Lê Nguyên B.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị X và anh Lê Nguyên B có 02 con chung là Lê Thị Phương T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2015 và Lê Thị Phương T1, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2018. Ly hôn, chị X có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của chị X là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện kinh tế, vì hiện nay, anh Lê Nguyên B đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị X, giao cho chị X được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Lê Thị Phương T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2015 và Lê Thị Phương T1, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2018 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị X không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
- Về chi phí nuôi dưỡng cháu Lê Thị Phương T: Bà Hồ Thị D không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho chị X khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Lê Nguyên B.
- - Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Thị Phương T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2015 và Lê Thị Phương T1, sinh ngày 23 tháng 3 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị X được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Lê Nguyên B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013405 ngày 31/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Chị Nguyễn Thị X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Anh Lê Nguyên B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 96/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Lê Nguyên B
