Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/ HNGĐ-ST

Ngày: 10/12/2025

V/v: Không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hương.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Toàn và ông Phạm Hồng Chương.
  • Thư ký phiên tòa : Bà Lê Thị Mai Anh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Huy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2025/TLST- HNGĐ ngày 06/10/2025 về việc “Không công nhận vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST -HNGĐ ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phan Đình C, sinh năm: 1977; Căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1978; Căn cước công dân số: [...]; địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng. vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2025, bản tự khai tại hồ sơ và tại phiên tòa anh Phan Đình C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Đình C chung sống với chị Nguyễn Thị T như vợ chồng từ năm 1999 không làm thủ tục đăng ký kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có được tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Vợ chồng về sinh sống tại thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh hoà thuận hạnh phúc đến năm 2003 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2003 cho đến nay. Nay anh C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn nhau.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 2 con chung, con thứ nhất Phan Thị Kim T1, sinh ngày: 20/10/2001 và con thứ hai Phan Quốc C1, sinh ngày: 12/10/2004. Hiện nay các con đã trưởng thành tự chăm lo cuộc sống cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 21/10/2025, các bản khai tại hồ sơ và quá trình xét xử bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T trình bày việc anh C và chị T về sống chung với nhau như vợ chồng, nguyên nhân, mức độ mâu thuẫn thống nhất như ý kiến anh C.

- Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng có hai con chung. Con thứ nhất: Phan Thị Kim T1, sinh ngày: 20/10/2001 và con thứ hai Phan Quốc C1, sinh ngày: 12/10/2004. Hiện nay các con đã trưởng thành tự chăm lo cuộc sống cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T thống nhất như ý kiến của anh Phan Đình C và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị T đề nghị xét xử vắng mặt với ly do chị đi làm ăn xa không có điều kiện đến trực tiếp tại Tòa án để giải quyết vụ án nên chị xin được vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn cơ bản đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng pháp luật. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng đã trình bày rõ yêu cầu của mình và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản khoản 8 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, điểm b và c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000; khoản 1 điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình: Tuyên bố không công nhận anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng

V quan hệ con chung: Anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Phan Thị Kim T1, sinh ngày 20/10/2001 và Phan Quốc C1, sinh ngày 12/10/2004. Các con đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc anh Phan Đình C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” được quy định khoản 8 điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, giữa nguyên đơn anh Phan Đình C và bị đơn chị Nguyễn Thị T, cùng địa chỉ: Thôn Q, xã T, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Tĩnh.

[2] .Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1999 nhưng không đăng ký kết hôn và đã có 4 năm chung sống với nhau hạnh phúc. Sau đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tại phiên tòa anh Phan Đình C yêu cầu Tòa án tuyên bố hai người không phải là vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy việc anh C và chị Thủy C2 sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 cho đến nay, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đáng lẽ ra anh chị phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn nhưng anh Phan Đình C3 và chị Nguyễn Thị T đã không đăng ký kết hôn mà sống với nhau như vợ chồng, cuộc hôn nhân như vậy là không phù hợp theo quy định của pháp luật. Việc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy cần áp dụng Điều 14; Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử tuyên bố anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T không phải là vợ chồng.

[3]. Về quan hệ con chung: Anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Phan Thị Kim T1, sinh ngày 20/10/2001 và Phan Quốc C1, sinh ngày 12/10/2004. Các con đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[4]. Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Chương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Chương, chị T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản khoản 8 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, điểm b và c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/06/2000; khoản 1 điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận anh Phan Đình C và chị Nguyễn Thị T là vợ chồng.
  2. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 2 con chung, con thứ nhất Phan Thị Kim T1, sinh ngày: 20/10/2001 và con thứ hai Phan Quốc C1, sinh ngày: 12/10/2004. Hiện nay các con đã trưởng thành tự chăm lo cuốc sống cho bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về án phí: Buộc anh Phan Đình C phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Chương đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007472 ngày 06/10/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh Phan Đình C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/12/2025. Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 3;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - THADS khu vực 3;
  • - UBND xã Tiên Điền, Hà Tĩnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/ HNGĐ-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH về không công nhận vợ chồng

  • Số bản án: 96/2025/ HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án không công nhận vợ chồng giữa anh Phan Đình Ch và chị Nguyễn Thị Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger