|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST; Ngày: 06-6-2025 Vv tranh chấp: Xin ly hôn, tranh chấp con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Tấn Thanh.
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 686/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 180/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thùy T, sinh năm 1985;
- Bị đơn: Phan Văn T1, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: tổ F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
(Chị T có đơn xin vắng mặt và anh T1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thùy T trình bày:
Chị và anh Phan Văn T1 tự nguyện cưới nhau vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, chị và anh T1 sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không khắc phục được. Chị đã cố gắn hàn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn giữa chị và anh T1 ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Chị và
anh T1 đã sống riêng từ đầu năm 2022 cho đến nay, cả hai không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị cương quyết xin ly hôn với anh Phan Văn T1.
Về con chung: Chị và anh T1 không có con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn Phan Văn T1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không có lý và không gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thùy T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị T và anh T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 37/2018 ngày 24/5/2018 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Đối với nguyên đơn Nguyễn Thùy T đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn Phan Văn T1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thùy T, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T xin ly hôn với anh T1 vì cho rằng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không khắc phục được. Chị T và anh T1 đã sống riêng từ năm 2022 cho đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T1 vắng mặt và không gởi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T. Điều đó cho thấy, anh T1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh T1 không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Chị T trình bày, chị và anh T1 không có con chung nên không xem xét.
[5] Về tài sản và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ
Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016, chị T phải chịu án phí án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
Căn cứ khoản Điều 28, Điều 35, Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thùy T.
Chị Nguyễn Thùy T được ly hôn với anh Phan Văn T1.
Về án phí: Chị Nguyễn Thùy T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị T được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai số 0006178 ngày 29/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị T đã nộp xong án phí.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Mỹ Trang |
Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn, tranh chấp con chung
- Số bản án: 96/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhân yeu cau xin ly hôn
