|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST Ngày 03-6-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 168/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 04 năm 2025, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2025/QĐXXST-HN ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kiều T, sinh năm 1990; thường trú: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến tre. Có mặt.
- - Bị đơn: Anh Trần Kiến Q, sinh năm 1983; thường trú: Số A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 4 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Kiến Q có thời gian tìm hiểu nhau hơn bốn năm thì tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận kết hôn số 153/2012 ngày 22/10/2012.
Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà sinh sống tại khu vực khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến
cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, có khó khăn về kinh tế, anh Q không tôn trọng vợ, vợ chồng sống không hạnh phúc. Đầu năm 2024 chị T và anh Q ly thân, đến tháng 8/2024 chị T chuyển về dưới quê sinh sống. Trong thời gian sống ly thân, anh Q có về dưới quê hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T nhưng chị không đồng ý. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên yêu cầu được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/5/2025 và tại phiên tòa, bị đơn anh Trần Kiến Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Kiến Q thống nhất với phần trình bày của chị T về thời gian tìm hiểu, điều kiện kết hôn và thời gian chung sống của vợ chồng. Về nguyên nhân mâu thuẫn: Anh Q xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2023, nguyên nhân chính là do kinh tế khó khăn, vợ chồng có hiểu lầm nhau nên đầu năm 2024 chị T bỏ ra ngoài sinh sống, đến tháng 8/2024 thì về quê sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân. Trong khoảng thời gian sống ly thân, anh Q có nhiều lần liên lạc, về quê để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vợ chị T không đồng ý. Nay anh Q xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, còn thương vợ, mong muốn được hàn gắn đoàn tụ với chị T nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Sự chấp hành pháp luật của các đương sự: Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
2
- [1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Kiến Q và chị Võ Thị Kiều T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 153, quyển số 01 ngày 22/10/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, Thành phố Hồ Chí Minh nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
- [2] Căn cứ ly hôn: Theo đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T xác định mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, có khó khăn về kinh tế, anh Q không quan tâm chị T, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên từ đầu năm 2024 vợ chồng đã sống ly thân, chị T không còn quan tâm yêu thương anh Q. Anh Q xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nhỏ, anh Q thừa nhận không quan tâm chị T dẫn đến vợ chồng không nói chuyện được với nhau. Đầu năm 2024 đến nay, vợ chồng sống ly thân, trong khoảng thời gian ly thân, anh Q đã nhiều lần nhắn tin, gặp trực tiếp chị T để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị T không đồng ý. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của anh Q, chị T tại Hội liên hiệp phụ nữ phường tuy nhiên không ai biết về mâu thuẫn của vợ chồng. Anh Q yêu cầu được hàn gắn hòa giải đoàn tụ với chị T nhưng từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay đã hơn 01 năm, anh Q không có phương án hòa giải hợp lý và chị T cũng không đồng ý nên có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh Q là trầm trọng, đời sống chung không kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- [3] Về con chung: Quá trình chung sống, anh Q và chị T xác nhận không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- [5] Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.
- [6] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Võ Thị Kiều T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T với bị đơn anh Trần Kiến Q về tranh chấp ly hôn.
3
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Kiến Q (Giấy chứng nhận kết hôn số 153, quyển số 01 ngày 22/10/2012 do Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp).
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Võ Thị Kiều T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008053 ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
4
5
Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 96/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T tranh chấp ly hôn với anh Q
