Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/DS-PT

Ngày 20 - 6 - 2025

“Tranh chấp kiện đòi tài sản là

quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 16 và ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS- ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 19/2025/QĐ - PT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm 1964, có mặt.

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Anh T: Ông Trần Chung K, sinh năm 1993, Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V, có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1996 và ông Phạm Tiến T1, sinh năm 1990; địa chỉ: số A N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt. (văn bản ủy quyền ngày 10 tháng 02 năm 2025), có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Văn C, sinh năm 1956; địa chỉ: khu H, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

+ Bà Trần Thị N2 (H), sinh năm 1966; địa chỉ; Làng C, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1971, có mặt.

+ Ông Trần Đức T2, sinh năm 1972, có mặt.

Đều cùng địa chỉ: thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn C, bà Trần Thị N2, bà Trần Thị L và ông Trần Đức T2 là ông Trần Anh T sinh năm 1964, Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 7 năm 2021), có mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1972, có mặt.

Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn N - bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại phiên toà, nguyên đơn ông Trần Anh T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N trình bày:

Thửa đất ao số 84, tờ bản đồ số 21 thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (theo bản đồ VN B) diện tích 01 sào, có tứ cận tiếp giáp, Đ - đường cái, T3 – Quý, Nam – Giót và B – Đồng là của cụ Đỗ Thị N3. Thửa đất ao cùng 7 thửa đất ruộng khác đã được Ủy ban hành chính tỉnh Vĩnh Phúc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất ngày 05/5/1956 (địa bạ số 166) cho cụ Đỗ Thị N3. Cụ N3 chết năm 1979, cụ N3 có duy nhất 01 người con gái là bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1911 (chết năm 1983). Bà H1 kết hôn với ông Trần Văn L1 (chết năm 1992). Bà H1 và ông L1 có 03 người con chung là Trần Thị Kim Q1 (đã chết từ khi hơn 10 tuổi, chết đuối), ông Trần Văn C, sinh năm 1956 và ông Trần S, sinh năm 1940 (chết năm 2021). Ông S có 04 người con là Trần Anh T, sinh năm 1964; Trần Thị N2 (H), sinh năm 1966; Trần Thị L, sinh năm 1971 và Trần Đức T2, sinh năm 1972. Cụ N3, bà H1, ông S chết đều không để lại di chúc.

Khi cụ N3 còn sống, cụ N3 chung sống cùng với con gái Nguyễn Thị H1 và con rể Trần Văn L1 và sử dụng diện tích đất ao này. Liền kề với phần đất ao là nhà,

đất thổ cư của cụ N3. Sau khi cụ N3 chết thì bà H1, ông L1 sử dụng đất ao. Khi bà H1, ông L1 chết, ông S và ông C cùng với các con của ông S (trong đó có ông Trần Anh T) vẫn sử dụng diện tích đất ao này nhưng bị gia đình cụ Nguyễn Văn T4 và ông Nguyễn Văn N chiếm hữu bất hợp pháp phần diện tích đất ao. Gia đình ông Trần Anh T đã nhiều lần gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã Y để đề nghị giải quyết nhưng vẫn chưa dứt điểm.

Nay ông Trần Anh Tlà cháu cụ N3 và được ông Trần Văn C, bà Trần Thị N2, bà Trần Thị L và ông Trần Đức T2 (những người được hưởng thừa kế của cụ N3), ủy quyền khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn N phải trả lại diện tích đất ao (01 sào) cho những người được hưởng thừa kế của cụ N3 là ông Trần Văn C, ông Trần Anh T, bà Trần Thị L, bà Trần Thị N2 và ông Trần Đức T2. Mọi người thống nhất, tạm giao cho ông Trần Anh T quản lý và sử dụng thửa đất ao trên.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông và ông Trần Anh T có mối quan hệ trong gia đình, giữa ông và ông T không mẫu thuẫn gì. Nguồn gốc diện tích đất ao hiện gia đình ông và ông T đang tranh chấp là của bố ông (Nguyễn Văn T4 chết năm 1998) sử dụng từ trước năm 1998, sau khi chết, bố ông để lại cho ông. Khi để lại đất, bố ông không có văn bản gì. Diện tích đất là hơn 1000m² thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, bao gồm cả phần đất mà ông đã xây nhà và phần đất ông làm ao. Bố ông có 05 người con là Nguyễn Văn T5, sinh năm 1964; Nguyễn Thị D, sinh năm 1967; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1972; Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977. Toàn bộ diện tích đất ông được bố ông để lại là 1113m², trong đó đất thổ cư là 743m² còn lại là đất ao. Đối với đất thổ cư thì đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 đứng tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn T4, còn đất ao thì chưa được cấp. Diện tích đất ao do có tranh chấp với cụ Trần Văn L1 (đã chết – là ông nội của ông Trần Anh T). Tại thời điểm xảy ra tranh chấp bố ông là người giải quyết, kết quả như thế nào ông không biết. Từ khi ông được bố ông cho đất ao năm 1998 cho đến nay, ông không đi đăng ký, kê khai để xin được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ao này. Hàng năm ông chỉ nộp thuế phần đất thổ cư còn phần đất ao ông không nộp thuế đất. Quá trình hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã Y thể hiện phần đất ao ông và ông T đang tranh chấp là thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã Y, khi đó ông không có ý kiến gì. Ông đề nghị được xem trích lục bản đồ nhưng không được xem. Sau này, ông được biết năm 1956 cụ Đỗ Thị N3 (là cụ ngoại của ông Trần Anh T) có quyết định cấp đất, trong quyết định có ghi 01 sào đất ao là phần đất ao hiện

đang tranh chấp. Ông xác định phần đất ao này là của bố ông cho ông và theo ông thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết nên ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Trần Văn C, bà Trần Thị N2, bà Trần Thị L và ông Trần Đức T2 trình bày: Đồng ý với ý kiến, lời trình bày của nguyên đơn ông Trần Anh T. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn Q trình bày: Sau khi tòa án sơ thẩm xét xử, do hàng rào B 40 của ông N bị cũ rách nên ông có quây mấy tấm tôn vào quanh ao tiếp giáp ngõ đi để đảm bảo an toàn cho trẻ nhỏ không chui vào nghịch ngợm. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS- ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

1. Áp dụng các Điều 221, 468, 649, 650, 651 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 677, 678, 679, 738, 739 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 31 Luật cải cách ruộng đất năm 1953; mục b, tiểu mục 2.4 Nghị quyết 02/2004/HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, buộc ông Nguyễn Văn N phải trả lại cho những người thừa kế của cụ Đỗ Thị N3 là ông Trần Văn C, Trần Anh T, bà Trần Thị N2, bà Trần Thị L, ông Trần Đức T2 diện tích đất 241 m² thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (các đương sự thống nhất thỏa thuận giao cho ông T được quản lý, sử dụng).

Ông Trần Anh T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn N số tiền đổ đất 1.500.000 đồng (tiền ông N đã đổ một phần đất trên diện tích 241,0m²). Ông N có nghĩa vụ thu dọn các tài sản khác trên đất là 04 trụ xây bằng gạch (cùng dây thép B40).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 01/7/2024, ông Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì xác định đất ao của bố ông để cho ông và ông không đồng ý giấy chứng nhận của cụ N3 năm 1956 và thời hiệu chia di sản thừa kế đã hết.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.

- Về việc giải quyết vụ án:

+ Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn N về phần án phí.

+ Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS- ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về phần án phí sơ thẩm của ông N.

+ Về án phí phúc thẩm, các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Quá trình giải quyết phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Q tự ý rào tấm tôn nên cấp phúc thẩm đưa ông Q tham gia tố tụng là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại cấp phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn N đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì ông cho rằng đất ao của bố ông cho ông, ông không đồng ý giấy chứng nhận của bà N3 năm 1956 và ông xác định thời hiệu chia di sản thừa kế đã hết.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Ông Nguyễn Văn N cho rằng toàn bộ quyền sử dụng đất ao hiện các đương sự đang tranh chấp là của bố ông (ông Nguyễn Văn T4) để lại. Tuy nhiên kết quả xác minh do Ủy ban nhân dân xã Y cung cấp, thể hiện thửa đất ao theo bản đồ 299 lập năm 1987 là thửa 156, diện tích 400 m²; theo bản đồ 299 lập năm 1995 là thửa 263, diện tích 271 m², đều không ghi chủ sử dụng. Theo sổ mục kê ngày 30/11/1995 ghi chủ sử dụng là Ủy ban nhân dân xã vì khi

quy chủ không có người kê khai. Theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất (địa bạ số 166) ngày 5 tháng 5 năm 1956 do Ủy ban hành chính tỉnh Vĩnh Phúc đã cấp thửa đất Ao tại xứ đồng trong làng có diện tích 01 sào và có các chiều cạnh: phía Đông giáp đường cái, phía Tây giáp Q2, phía Nam giáp G và phía Bắc giáp Đ1 cho bà Đỗ Thị N3. Vị trí thửa ao đang tranh chấp tại thửa số 84, tờ bản đồ số 21 thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (theo bản đồ VN B) trùng với vị trí đất ao cụ N3 được cấp trong giấy chứng nhận ngày 5 tháng 5 năm 1956 và chưa bị trưng thu hay thu hồi. Thửa đất ao này chưa bao giờ mang tên cụ Nguyễn Văn T4. Bản thân cụ T4 và ông N đều có thời gian tham gia công tác tại Ủy ban nhân dân xã Y nhưng cụ T4 hay ông N chưa bao giờ đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất ao trên. Ông N là người trực tiếp vào sổ chia ruộng đất của Ủy ban nhân dân xã Y (chia đất nông nghiệp theo Nghị định 64) nhưng ông N cũng không kê khai phần đất ao hiện các đương sự đang tranh chấp vào phần đất nông nghiệp của gia đình mình. Căn cứ kết quả chia đất nông nghiệp của Ủy ban nhân dân xã Y thì gia đình ông N không được chia diện tích đất ao hiện các đương sự đang tranh chấp. Như vậy, ông Nguyễn Văn N khẳng định thửa đất ao là của cụ Nguyễn Văn T4 để lại cho ông là không có cơ sở.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ruộng do Ủy ban hành chính tỉnh V (cũ) cấp ngày 05/5/1956 thể hiện nội dung “Cấp cho cụ Đỗ Thị N3 gia đình gồm 05 nhân khẩu”. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Y ngoài cụ N3 địa phương không thể xác định được 5 nhân khẩu trong gia đình cụ N3 thời điểm đó là ai. Phía nguyên đơn xác định 5 nhân khẩu là cụ N3, bà H1, ông L1, bà Q1, ông S. Phía bị đơn đề nghị tòa án xác minh hàng thừa kế của cụ N3 và bị đơn không xác định được cụ thể 5 nhân khẩu là ai. Vụ án này là tranh chấp kiện đòi tài sản, không phải vụ án chia thừa kế nên Tòa án không xác định diện và hàng thừa kế của cụ N3. Đối với 5 nhân khẩu trong gia đình cụ N3 khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ruộng ngày 05/5/1956, Tòa án cấp phúc thẩm đã ra thông báo tìm kiếm người thuộc một trong 5 nhân khẩu được cấp ruộng đất cùng cụ N3 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/5/1956 và niêm yết tại địa phương nhưng không có thông tin phản hồi.

Quá trình giải quyết vụ án ông N giao nộp cho Tòa án 01 Gia phả họ Nguyễn tại thôn B, xã Y thể hiện cụ Nguyễn Văn K1 sinh ra cụ C1, cụ C1 sinh ra ông T4 và ông T4 sinh ra ông N. Ông N cho rằng cụ K1 có 2 vợ là cụ Q2 và cụ N3 nhưng tại gia phả do ông nộp không ghi hay thể hiện thông tin vợ của cụ K1 là ai. Các đương sự

đều trình bày mối quan hệ giữa cụ K1 và cụ N3 nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì về pháp lý để chứng minh. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Công ty L3 đối với ông Nguyễn Văn T6 (Cám) và bà Nguyễn Thị T7 thể hiện cụ Nguyễn Văn K1 có 02 người vợ, trong đó có cụ N3 (cụ H3). Đối với cụ K1 chết khi còn trẻ, tính đến nay đã hơn 100 năm, tức là chết trước thời điểm cấp giấy chứng nhận ngày 5/5/1956 nên không thể là một trong 5 nhân khẩu và cũng không có quyền sở hữu hoặc thừa kế đất được cấp sau khi cụ mất. Theo Điều 31 Luật cải cách ruộng đất năm 1954 quy định: “Người được chia ruộng đất có quyền sở hữu ruộng đất đó, và không phải trả cho địa chủ hay chính quyền bất cứ một khoản nào. Chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu ấy cho người được chia. Mọi khế ước cũ đều huỷ bỏ. Người được chia có quyền chia gia tài, cầm, bán, cho, v.v... ruộng đất được chia” và trong giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất cấp cho cụ N3 cũng ghi: “Kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận này bà Đỗ Thị N3 được quyền sở hữu và quyền tự do sử dụng những ruộng đất trên”. Như vậy, không có căn cứ xác định đất tranh chấp là tài sản chung của cụ K1 và cụ N3. Việc cụ N3 được cấp giấy chứng nhận là hợp pháp và là cơ sở xác lập quyền sử dụng hợp pháp cho cụ N3. Do đó, diện tích đất nói trên là di sản thừa kế của cụ N3, được để lại cho các con cháu của cụ được hưởng theo quy định pháp luật.

Ông N cho rằng mình thuộc diện và hàng thừa kế của cụ N3 nhưng thực tế không có căn cứ (theo lời trình bày của ông N và gia phả do cung cấp thể hiện cụ K1 sinh ra cụ C1, cụ C1 sinh ra ông T4 và ông T4 sinh ra ông N nên ông N không có quan hệ huyết thống với cụ N3). Diện và hàng thừa kế của cụ Đỗ Thị N3 tạm tính đến thời điểm này được xác định là ông Trần Văn C, ông Trần Anh T, bà Trần Thị N2, bà Trần Thị L, ông Trần Đức T2. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và gia phả phía bị đơn nộp, xác định ông Nguyễn Văn N là chắt của cụ Nguyễn Văn K1, ông N không có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng hợp pháp với cụ Đỗ Thị N3 mặc dù người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn cho rằng: cụ N3 khi sống ở trong nhà cụ K1, chết do gia đình cụ C1 và bố ông N lo ma chay, giỗ do nhà ông N cúng nhưng không có tài liệu chứng minh gia đình cụ C1 chăm sóc, nuôi dưỡng cụ N3 nên cụ C1 không được hưởng thừa kế (mẹ kế - con riêng) theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh 1990 như người bảo vệ quyền lợi của ông N trình bày. Cụ C1 không được hưởng thừa kế của cụ N3 thì ông N cũng không được hưởng thừa kế của cụ N3. Ngoài ra, cũng không có căn cứ xác định ông N được thừa kế thế vị từ cụ K1, bởi cụ K1 đã mất trước khi

cụ N3 để lại di sản và ông N không phải là con hoặc cháu ruột trực tiếp của cụ N3.

Ông N cho rằng nguyên đơn khởi kiện đã hết thời hiệu nên đề nghị Tòa án đình chỉ. Hội đồng xét xử thấy: Đây là vụ án kiện đòi tài sản là đất ao của cụ N3 để lại, ông N không có căn cứ để xác lập, sử dụng quyền sử dụng đất ao. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2004/NG – HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, đối với trường hợp không áp dụng thời hiệu, quy định “Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp...thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại”. Đề nghị của ông N mâu thuẫn với chính lời trình bày của mình, ông N cho rằng đất là của cụ T4 nhưng lý do để ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là do thời hiệu khởi kiện đã hết, tức là đất của cụ N3.

Từ những phân tích, nhận định trên, cấp sơ thẩm buộc ông N phải trả lại cho những người thừa kế của cụ N3 toàn bộ diện tích 241m² đất ao thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ. Ông C, bà N2, bà L, ông T2 đều thống nhất thỏa thuận giao cho ông T được quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 241m² đất ao nên Hội đồng xét xử không xem xét phân chia quyền sử dụng đất ao cho các hàng thừa kế mà tạm giao cho ông T quản lý, sử dụng. Trường hợp các đương sự có yêu cầu phân chia quyền sử dụng đất trên thì có quyền đề nghị giải quyết bằng 01 vụ việc khác theo quy định của pháp luật.

Đối với tài sản trên đất ao, tại cấp sơ thẩm xác định ông N đã tiến hành đổ 01 phần đất (tiền đổ đất là 1.500.000 đồng); 04 trụ xây bằng gạch cao 80cm (cùng dây thép B40). Ông N không đề nghị xem xét, giải quyết đối với phần đất đã đổ. Ông T tự nguyện thanh toán số tiền đổ đất 1.500.000 đồng, việc ông T tự nguyện thanh toán cho ông N số tiền 1.500.000 đồng là không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với các tài sản khác trên đất của ông N là 04 trụ xây bằng gạch (cùng dây thép B40) thì ông N phải tự thu dọn. Sau khi tòa án sơ thẩm xét xử, ông Nguyễn Văn Q là em trai ông N trình bày: do hàng rào B 40 của ông N bị cũ rách nên ông có quây mấy tấm tôn vào quanh ao tiếp giáp ngõ đi để đảm bảo an toàn cho trẻ nhỏ không chui vào nghịch ngợm. Tòa án đã xuống làm việc tại thực địa và xác định; một phần diện tích phần đất ao có chiều cạnh giáp ngõ đi được ông Q quây tôn, cụ thể ; 04 tấm tôn chiều cao 60 cm (gồm có 03 tấm liền nhau có chiều dài 2.9 m và

01 tấm có chiều dài 1.1 m) và 01 đoạn tôn có chiều cao 2 m, chiều dài 15.7 m. Hội đồng xét xử thấy: Ông Nguyễn Văn Q không có quyền sử dụng hợp pháp phần đất ao, việc ông Nguyễn Văn Q tự ý rào tôn là trái với quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của người có quyền sử dụng đất nên cần buộc ông Nguyễn Văn Q phải tháo dỡ toàn bộ ; 04 tấm tôn chiều cao 60 cm (gồm có 03 tấm liền nhau có chiều dài 2.9 m và 01 tấm có chiều dài 1.1 m) và 01 đoạn tôn có chiều cao 2 m, chiều dài 15.7 m đã lắp tại chiều cạnh giáp ngõ khu ao diện tích 241 m² tại thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Từ những phân tích trên xác định ông Trần Anh T khởi kiện đòi lại tài sản là có căn cứ nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ và buộc ông N phải trả lại diện tích đất ao cho những người thừa kế của cụ N3 và buộc ông N và ông Q có nghĩa vụ thu dọn các tài sản trên đất là 04 trụ xây bằng gạch cùng dây thép B40 và các tấm tôn quây quanh bờ ao. Do đó kháng cáo của ông N không được hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3]. Về chi phí tố tụng: Do ông Trần Anh T tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện về việc kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất của ông Trần Anh T được chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí đối với giá trị quyền sử dụng đất được trả lại. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm buộc ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng đối với số tiền 1.500.000 đồng ông T tự nguyện trả cho ông N là không đúng vì đây là sự tự nguyện của ông T nên ông T không phải chịu án phí. Do đó, cấp phúc thẩm sẽ sửa lại phần án phí này.

Ông N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N không được chấp nhận kháng cáo nhưng do bản án sơ thẩm bị sửa nên ông N không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, được xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2024/DS- ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

Căn cứ các Điều 221, 468, 649, 650, 651 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 677, 678, 679, 738, 739 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 31 Luật cải cách ruộng đất năm 1953; mục b, tiểu mục 2.4 Nghị quyết 02/2004/HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, buộc ông Nguyễn Văn N phải trả lại cho những người thừa kế của cụ Đỗ Thị N3 diện tích 241m² đất ao tại thửa số 84, tờ bản đồ số 21 (theo bản đồ VN B) thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Ông Nguyễn Văn N và ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ thu dọn các tài sản khác trên phần diện tích 241m² đất ao tại thửa số 84, tờ bản đồ số 21 là: 04 trụ xây bằng gạch cùng dây thép B40 và các tấm tôn quây quanh bờ ao, nếu ông N và ông Q không tự nguyện tháo rỡ thì sẽ bị cưỡng chế tháo rỡ theo quy định của luật Thi hành án dân sự.

3. Tạm giao cho ông Trần Anh T được quản lý, sử dụng diện tích đất 241m² đất ao tại thửa số 84, tờ bản đồ số 21 (theo bản đồ VN B) thuộc thôn B, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ kèm theo).

4. Ghi nhận sự tự nguyện ông Trần Anh T thanh toán cho ông Nguyễn Văn N số tiền đổ đất trên diện tích 241m² đất ao là 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Ông Trần Anh T không chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền 500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0005724 ngày 04 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường.

Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng nộp theo biên lai số 0004977 ngày 01/7/2024 tại chi cục thi hành án huyện Vĩnh Tường.

Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Vĩnh Tường;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - Chi cục huyện Vĩnh Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/DS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 96/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger