Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/DS-PT

Ngày 19-3-2025

V/v tranh chấp yêu cầu mở lối đi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Huỳnh Đắc Đương

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Mến

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp yêu cầu mở lối đi.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị V, sinh năm 1960; địa chỉ ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị V: ông Trương Văn C, sinh năm 1973; địa chỉ ấp S, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 17/10/2024) (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Bà Sơn Thị Binh R, sinh năm 1969 (có mặt).
  2. Bà Sơn Thị M, sinh năm 1977; cùng địa chỉ ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Sơn T, sinh năm 1966;
  2. Bà Sơn Thị Tuyết M1, sinh năm 2000;
  3. Ông Kim Q, sinh năm 1970;
  4. Ông Kim Q1, sinh năm 1995;
  5. Ông Kim Ngọc Â, sinh năm 1997;
  6. Bà Kim Thị Ngọc H, sinh năm 1999;
  7. Ông Thạch Tấn P, 44 tuổi;
  8. Ông Sơn Ngọc L, sinh năm 2007; cùng địa chỉ ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị V là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 9 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn bà Thạch Thị V trình bày: Bà V có thửa đất 520, diện tích 1.030m², tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, giáp thửa đất của bà Thạch Thị V là thửa đất 524, diện tích 720m² của bà Sơn Thị Binh R và thửa đất số 525, diện tích 1.570m² là của bà Sơn Thị M. Khi ra ngoài đường công cộng thì gia đình bà Thạch Thị V phải đi ngang qua thửa đất của bà R và bà M nhưng nay tranh chấp bà M và bà R rào lại không cho bà đi. Lối đi này có từ đời ông bà của bà đã sử dụng từ trước cho đến nay, ngoài lối đi này ra thì gia đình bà không có lối đi nào khác nên bà Thạch Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Sơn Thị M và bà Sơn Thị Binh R phải mở cho bà lối đi ngang 3m, dài hết hai thửa đất 524, 525.

Bị đơn bà Sơn Thị Binh R trình bày: Bà có thửa đất 525, diện tích 1.570m², tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nguồn gốc đất là của cha mẹ cho, đất của bà Thạch Thị V nằm phía trong giáp phần đất của bà Sơn Thị M. Bà V muốn đi ra lộ thì phải đi qua phần đất của bà M và đất của bà nhưng từ trước đến nay bà không cho bà V đi thì bà V có lối đi khác. Nay bà Thạch Thị V bị người ta không cho đi quay sang đòi mở lối đi trên phần đất của bà, bà không đồng ý.

Bị đơn bà Sơn Thị M trình bày: Bà M có thửa đất 524, diện tích 720m², tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nguồn gốc đất của ông bà để lại, đất này bà M đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất của bà Thạch Thị V nằm phía trong giáp phần đất của bà. Từ trước đến nay bà không có cho bà V đi qua phần đất của bà, bà V đi nhờ lối đi khác. Nay bà Thạch Thị V tranh chấp yêu cầu bà mở lối đi là bà không đồng ý.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã xử: Chấp nhận yêu cầu mở lối đi của bà Thạch Thị V. Buộc bà Sơn Thị M phải mở lối đi diện tích 67,3m² nằm trong tổng diện tích 720m² thuộc thửa đất 524, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do bà Sơn Thị M đứng tên quyền sử dụng đất, bà Thạch Thị V có nghĩa vụ đền bù cho bà Sơn Thị M số tiền 47.110.000 đồng. Buộc bà Sơn Thị Binh R phải mở lối đi diện tích 58m² nằm trong tổng diện tích 1.570m² thuộc thửa đất 525, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do bà Sơn Thị Binh R đứng tên quyền sử dụng đất, bà Thạch Thị V có nghĩa vụ đền bù cho bà Sơn Thị Binh R số tiền 40.600.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tứ cận, nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn bà Thạch Thị V kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, bà không đồng ý Tòa án buộc bà hoàn trả giá trị đất cho bà Sơn Thị Binh R, Sơn Thị M số tiền 87.710.000 đồng vì giá đất này là quá cao.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Thạch Thị V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 11 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn bà Thạch Thị V kháng cáo, việc kháng cáo của các đương sự còn trong hạn luật định cần được chấp nhận.

Xét thấy nguyên đơn kháng cáo giá đất Hội đồng định giá cao so với thị trường, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án theo hướng tính giá đất thấp lại là không có căn cứ, bởi vì giá đất là do Hội đồng định giá xác định là 700.000 đồng/m² ghi trong biên bản định giá bà Thạch Thị V tham gia có ký tên và không có ý kiến phản đối hay yêu cầu định giá lại. Vì vậy án sơ thẩm xét xử căn cứ vào kết quả định giá của Hội đồng định giá để buộc bà Thạch Thị V đền bù cho bị đơn do không sử dụng đất là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn bà Thạch Thị V có yêu cầu kháng cáo, việc kháng cáo của các đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung yêu cầu kháng cáo: nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm giá trị quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật.

Xét thấy căn cứ vào Biên bản định giá tài sản ngày 06 tháng 6 năm 2024 (BL51-54) bà Thạch Thị V có chứng kiến việc định giá tài sản và bà Thạch Thị V thống nhất theo giá của Hội đồng định giá tài sản, không có khiếu nại về giá, tại phiên tòa sơ thẩm bà Thạch Thị V cũng thống nhất với giá của Hội đồng định giá tài sản (BL98-105). Bà Thạch Thị V yêu cầu định giá lại tài sản và kháng cáo xin giảm số tiền trả giá trị quyền sử dụng đất nhưng bà Thạch Thị V cũng không có chứng cứ chứng minh là việc định giá của Hội đồng định giá là không vô tư, khách quan và không chứng minh được sự chênh lệch giá về tài sản đã định hơn nữa mối quan hệ giải quyết trong vụ kiện là yêu cầu mở lối đi nên số tiền hoàn trả là khoản tiền đền bù cho chủ sở hữu tài sản, không phải tranh chấp quyền sử dụng đất nên không phải trả giá trị quyền sử dụng đất án sơ thẩm xem xét mở lối đi và buộc bà Thạch Thị V hoàn trả tiền đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu ảnh hưởng quyền là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy không có cơ sở để thỏa mãn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị V, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh là phù hợp với các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ kiện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị V. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Thạch Thị V là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí đúng quy định của pháp luật nên bà Thạch Thị V được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 117/2024/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về việc tranh chấp yêu cầu mở lối đi giữa nguyên đơn bà Thạch Thị V với bị đơn bà Sơn Thị Binh R và bà Sơn Thị M.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị V. Buộc bà Sơn Thị M phải mở lối đi diện tích 67,3m² nằm trong tổng diện tích 720m², thuộc thửa 524, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do bà Sơn Thị M đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất mở lối đi (Sơ đồ ký hiệu B) có tứ cận như sau:

  • Phía Đông giáp thửa 520 có kích thước 2m;
  • Phía Tây giáp thửa 525 có kích thước 2m;
  • Phía Nam giáp thửa 524 có kích thước 24,78m, 9,09m;
  • Phía Bắc giáp thửa 521 có kích thước 25,59m, 8,82m (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 997/CNHCT ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh).

Buộc bà Thạch Thị V có nghĩa vụ đền bù cho bà Sơn Thị M số tiền 47.110.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu một trăm mười nghìn đồng).

Buộc hộ bà Sơn Thị Binh R (gồm ông Kim Q, ông Kim Q1, ông Kim Ngọc  và bà Kim Thị Ngọc H) phải mở lối đi diện tích 58m² nằm trong tổng diện tích 1.570m², thuộc thửa 525, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh do hộ bà Sơn Thị Binh R đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất mở lối đi (Sơ đồ ký hiệu A) có tứ cận như sau:

  • Phía Đông giáp thửa 524 có kích thước 2m;
  • Phía Tây giáp đường bê tông có kích thước 2m;
  • Phía Nam giáp thửa 525 có kích thước 28,90m;
  • Phía Bắc giáp thửa 521 có kích thước 29,12m (có sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 997/CNHCT ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Trà Vinh).

Bà Thạch Thị V có nghĩa vụ đền bù cho bà Sơn Thị Binh R số tiền 40.600.000 đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu thêm cho bên được thi hành khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, về lãi suất phát sinh do chậm trả được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Thạch Thị V.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Đắc Đương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp yêu cầu mở lối đi

  • Số bản án: 96/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp yêu cầu mở lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/c lối đi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger