Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUY TIÊN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 96/2024/HSST

Ngày 15 – 8 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tuấn và bà Đỗ Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Vy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST – HS ngày 03/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 94/2024/QĐXXST – HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Quốc H, sinh năm 1987, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Xóm A, thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Quốc C, sinh năm 1962 và bà Trần Thị T, sinh năm 1967; vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không. Tạm giữ: Từ ngày 22/5/2024 đến ngày 28/5/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã D. Có mặt.
  2. Trương Ngọc A, sinh năm 1988, tên gọi khác: Không, nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Văn B, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963; vợ: Lê Thị D, sinh năm 1990; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con bé nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/6/2016 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Tạm giữ: Từ ngày 15/01/2024 đến ngày 24/01/2024 chuyển sang tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Trịnh Thị T1, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
  1. Anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Trọng H2, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/01/2024 tại xóm A, thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Công an xã Y, thị xã D tuần tra kiểm soát thấy Trương Ngọc A điều khiển xe mô tô BKS: 90B1 - 970.86 có nhiều biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu A dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện bắt quả tang Trương Ngọc A có hành vi đang cất giữ trái phép ma túy, mục đích để sử dụng. Công an xã Y đã thu giữ toàn bộ tang vật, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã D để giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng, tài sản thu giữ, tạm giữ gồm:

  • Thu tại túi áo khoác phía trước bên phải của Trương Ngọc A 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có 04 (bốn) viên nén màu đỏ, thu ở túi áo khoác bên trái của Trương Ngọc A 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có 06 (sáu) viên nén màu đỏ. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01;
  • T2 tại túi quần bên trái của Trương Ngọc A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu vàng trắng có số IMEI 356606081509204 bên trong máy có lắp sim được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT02;
  • Thu giữ tại vị trí bắt giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu đen, BKS: 90B1- 970.86, số máy: HC12E- 5577586, số khung RLHHC1217DY577489, xe đã cũ đã qua sử dụng, đã kiểm tra trong xe không phát hiện gì.

Tại Bản kết luận giám định số 88/KL – KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,997g (Không phẩy chín trăm chín mươi bảy gam), loại: Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 09 giờ ngày 15/01/2024, Trương Ngọc A sử dụng điện thoại số thuê bao 0978.100.xxx gọi đến số thuê bao 0374.560.778 của Nguyễn Quốc H hỏi mua 10 viên ma tuý ngựa với giá 800.000đ. H đồng ý rồi bảo An chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản của H rồi H gửi cho A số tài khoản 108003011372 mang tên Nguyễn Quốc H mở tại ngân hàng V1. A đồng ý rồi sử dụng tài khoản số 1031305461 mang tên Trương Ngọc A, mở tại ngân hàng V2 chuyển số tiền 790.000đ vào số tài khoản của H. Sau khi chuyển tiền xong, Trương Ngọc A gọi điện thoại thông báo cho H biết và dặn H chia số ma tuý mà A mua ra thành 02 gói, trong đó 01 gói chứa 06 viên ma túy và 01 gói chứa 04 viên ma tuý. Sau đó, Nguyễn Quốc H một mình đi đến khu vực nhà thi đấu tỉnh Hà Nam thuộc thành phố P, hỏi mua 14 viên ma túy ngựa với giá 1.000.000đ của một người đàn ông tên C1 (H không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể). C1 cầm tiền H đưa rồi đưa lại cho H 01 túi nilon bên trong có 14 viên ma tuý ngựa. H cầm số ma tuý này đi

về nhà tại thôn Đ, xã Y, thị xã D rồi lấy ra 10 viên, chia thành 02 gói (một gói 06 viên và một gói 04 viên). H cầm 02 gói ma túy này đi đến khu vực cổng chùa L, cách nhà H khoảng 500m rồi để 02 gói ma túy vào khe cột điện và chụp ảnh vị trí cất giấu ma tuý gửi cho A đồng thời gọi điện bảo An đến lấy, còn lại 04 viên ma tuý ngựa H mang về nhà một mình sử dụng hết. Sau khi nhận được điện thoại của H thông báo về chỗ cất giấu ma túy, Trương Ngọc A mượn xe mô tô BKS: 90B1 - 970.86 của anh Hoàng Văn D1, sinh năm 1989, trú tại thôn L, xã T, thị xã D rồi một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cổng chùa L thuộc xã Y, lấy 02 gói ma túy ở khe cột điện gần cổng chùa L rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi đi đến khu vực thôn Đ, xã Y, thị xã D thì bị lực lượng Công an xã Y, thị xã D kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Căn cứ các tài liệu điều tra, ngày 22/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Quốc H và thu giữ của H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số IMEI: 359153074653696, bên trong có lắp sim của nhà mạng Viettel, trên sim có dãy số 8984;0480;0914;38151, tình trạng đã cũ.

Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Quốc H tại thôn Đ, xã Y, thị xã D không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô BKS: 90B1 - 970.86, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Thị T1 - sinh năm 1995, trú tại thôn L, xã T, thị xã D. Ngày 15/01/2024, chị T1 cho anh Hoàng Văn D1 (là anh họ của chị T1) mượn xe để đi đám cưới, sau đó anh D1 cho Trương Ngọc A mượn xe mô tô trên để đi lại, anh D1, chị T1 đều không biết Trương Ngọc A sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi mua ma tuý. Tiến hành tra cứu xác định xe mô tô trên không nằm trong dữ liệu xe tang vật của vụ án nào nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô 90B1 - 970.86 cho chị Trịnh Thị T1 theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 90/CT – VKS ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Trương Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Quốc H mức án từ 27 (Hai mươi bẩy) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024.
  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trương Ngọc A mức án từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/01/2024.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với các bị cáo.

Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Quốc HTrương Ngọc A chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất và không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, những người tiến hành tố tụng nêu trên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 15/01/2024 tại thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Trương Ngọc A có hành vi tàng trữ trái phép 10 viên ma túy ngựa, có khối lượng 0,997g, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị tổ công tác công an xã Y phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng liên quan.

Trước đó, khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/01/2024 tại thôn Đ, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Quốc H có hành vi bán trái phép 10 viên ma túy ngựa có khối lượng 0,977g, loại Methamphetamine với giá 790.000đ cho Trương Ngọc A.

Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Hành vi nêu trên của Nguyễn Quốc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, hành vi của Trương Ngọc A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, bản Cáo trạng số 90/CT – VKS – DT ngày 01/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Cả hai bị cáo Nguyễn Quốc H là người có nhân thân tốt, Trương Ngọc A là người có nhân thân xấu. Cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo HA đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, gia đình bị cáo Nguyễn Quốc H giao nộp chứng cứ có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng nên bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ nhận định trên, xét thấy hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng vì thế cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét hành vi bán ma tuý của Nguyễn Quốc H cho Trương Ngọc A có tính vụ lợi nên cần xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H để đảm bảo tính răn đe và sự nghiêm minh của pháp luật

Hành vi của Trương Ngọc A mua ma tuý chỉ để thoả mãn cơn nghiện, thực tế bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[5] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Trương Ngọc A do A mua từ Nguyễn Quốc H: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, H khai số ma túy ngựa này là H mua của một người đàn ông tên là C1 ở khu vực thành phố P với giá 1.000.000 đồng được 14 viên ma túy ngựa, H bán cho A 10 viên còn lại 04 viên H mang về nhà một mình sử dụng hết. H khai báo không rõ tên tuổi dầy đủ, địa chỉ của C1. Ngoài lời khai của H thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam không có căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ đối với người đàn ông tên C1 đã bán số ma túy ngựa cho H là có cơ sở.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong có số 88/KL – KTHS và dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H: Đây là mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy, là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, màu vàng trắng, số IMEI 356606081509204 là điện thoại của bị cáo Trương Ngọc A và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số IMEI: 359153074653696 là điện thoại của bị cáo Nguyễn Quốc H: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận đây là phương tiện để các bị cáo mua bán ma túy, do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen đeo biển kiểm soát 90B1- 970.86, số máy: HC12E- 5577586, số khung RLHHC1217DY577489: Đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không đặt ra xem xét.

[7] Truy thu số tiền 76.000 đồng của bị cáo Nguyễn Quốc H thu lời bất chính từ việc bán ma túy để sung ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự:

  • - Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc H.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc A.

Tuyên bố:

  • - Bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • - Bị cáo Trương Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Quốc H 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024.
  • Phạt tiền bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
  • - Bị cáo Trương Ngọc A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có số 88/KL – KTHS và dấu giáp lai của Phòng K - Công an tỉnh H.
  • - Tịch thu xung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 5 màu vàng trắng của bị cáo Trương Ngọc A; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7plus màu hồng của bị cáo Nguyễn Quốc H.
  • (Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã D, tỉnh Hà Nam và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ngày 02/7/2024).

3. Truy thu số tiền 76.000 (Bẩy mươi sáu nghìn) đồng của bị cáo Nguyễn Quốc H để sung ngân sách nhà nước.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội các bị cáo Nguyễn Quốc HTrương Ngọc A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tối cao;

- TAND tỉnh Hà Nam;

- VKSND tỉnh Hà Nam;

- Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên;

- VKSND thị xã Duy Tiên;

- Chi cục THADS thị xã Duy Tiên;

- Cơ quan THAHS Công an tx Duy Tiên;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;

- Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam;

- Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HSST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 96/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN QUỐC H PHẠM TỘI "MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY" VÀ TRƯƠNG NGỌC A PHẠM TỘI "tÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger