Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 30/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thu Hà.

Ông Lê Tấn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đức - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Hùng T; Sinh ngày: 24/8/1981; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Không xác định; Chỗ ở: Kế nhà số 184/34/9 đường BS, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ buôn bán; Trình độ văn hóa: 1/12 (bị cáo khai biết ký tên, ghi họ tên); Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ (bị cáo khai cha tên là Võ Hùng C - đã chết) và bà: Trần Thị Mộng Tr; Hoàn cảnh gia đình: Bị cáo khai có vợ là bà Nguyễn Thanh Tr1 (không đăng ký kết hôn, đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/6/2024.

Nhân thân: Ngày 07/5/2024, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 61/QĐ-TA). Ngày 04/6/2024, Giám đốc Cơ sở cai nghiện ma túy Số 1 ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành Quyết định số: 61/QĐ-TA, đồng thời giao Võ Hùng T cho Cơ quan điều tra Công an Quận 6 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số: 372/LB-ĐTTH ngày 15/5/2024 do Võ Hùng T đã bị khởi tố về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 1747/QĐ-CS1).

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

Ông Tiết Chí H; Sinh ngày: 02/9/2005; Thường trú: 33 đường số DC, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: 23/2 đường MP, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Tiết Niệm H1; Sinh năm: 1977; Thường trú: 33 đường số DC, Phường J, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 154/36 đường HN, Phường P, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/3/2024, ông Tiết Chí H đến Công an Phường E, Quận F trình báo việc bị mất 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA màu đỏ tại nhà số 23/2 đường MP, Phường E, Quận F.

Từ dữ liệu Camera do ông Tiết Chí H cung cấp, ngày 13/3/2024 Cơ quan điều tra Công an Quận 6 triệu tập Võ Hùng T lên trụ sở làm việc và T khai khoảng 11 giờ 40 phút ngày 05/3/2024, T đến nhà số 23/2 đường MP, Phường E, Quận F tìm bà Phạm Ngọc T1 (mẹ của Tiết Chí H) để đòi nợ (trước đó T có cho bà T1 mượn 20.000.000 đồng, nhưng bà T1 không trả mà cố tình lẩn tránh). Đến nơi, T thấy nhà mở cửa mà không có người, bên trong có để 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA màu đỏ. Nghĩ chiếc xe này là của bà T1 nên T đi vào lấy chiếc xe đem về nhà của T tại địa chỉ kế nhà số 184/34/9 đường BS, Phường D, Quận F cất giấu nhằm chờ bà T1 đến gặp T giải quyết số nợ trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 17KL-HĐĐGTS ngày 02 tháng 4 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA, đời 2019, loại xe CAP A màu đỏ (tình trạng sử dụng còn khoảng 70%) tại thời điểm ngày 05/3/2024 là: 4.000.000 đồng.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự (Quyết định số: 65/QĐ-ĐTTH); khởi tố bị can đối với Võ Hùng T về tội «Trộm cắp tài sản» (Quyết định số: 82/QĐ-ĐTTH).

Tại Cáo trạng số: 104/CT-VKS-Q6 ngày 17 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Hùng T về tội «Trộm cắp tài sản» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Võ Hùng T khai nhận chính bị cáo, đã thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA, đời 2019, loại xe CAP A màu đỏ của ông Tiết Chí H tại nhà số 23/2 đường MP, Phường E, Quận F vào trưa ngày 05/3/2024 như nội dung bản cáo trạng nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Hùng T như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Võ Hùng T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Tiết Chí H không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Đối với 01 USB màu trắng (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc Võ Hùng T lấy trộm chiếc xe đạp điện tại nhà số 23/2 đường MP, Phường E, Quận F vào ngày 05/3/2024) do ông Tiết Niệm H1 cung cấp, đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL136), là chứng cứ lưu hồ sơ, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Võ Hùng T nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Võ Hùng T tại phiên tòa với Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera, Khám nghiệm hiện trường ngày 13/3/2024 của Công an Quận 6 (kèm bản ảnh); Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận 6; lời khai của bị hại Tiết Chí H và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ, lời khai khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Hùng T đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015).

Bị cáo Võ Hùng T đã lén lút chiếm đoạt của ông Tiết Chí H 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA (loại xe CAP A, màu đỏ, đời 2019) trị giá 4.000.000 đồng tại nhà số 23/2 đường MP, Phường E, Quận F vào trưa ngày 05/3/2024. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an xã hội. Hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng» theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Bị cáo Võ Hùng T là người đã trưởng thành, bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác dù bất cứ nguyên nhân gì cũng là hành vi vi phạm pháp luật và được quy định trong Bộ luật hình sự, nhưng do ý thức xem thường pháp luật, nên bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Võ Hùng T là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội này đã hoàn thành, việc bị phát hiện bắt giữ và thu giữ lại tài sản là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo. Mặt khác, ngày 07/5/2024, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 6 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung, góp phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay, nhất là các tội phạm về xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo; được bị hại bãi nại, đồng thời đề nghị giảm nhẹ hình phạt, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Những nhận định trên cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Võ Hùng T còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Việc bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, ông Tiết Chí H vắng mặt, nhưng tại Cơ quan điều tra ông H không yêu cầu bồi thường và đồng ý bãi nại cho bị cáo Võ Hùng T (theo Biên bản ghi lời khai ngày 01/7/2024 của Công an Quận 6 - BL54), do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Việc xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với chiếc xe đạp điện nhãn hiệu NIJIA (loại xe CAP A, đời 2019, màu đỏ), Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Tiết Chí H (ông H khai chiếc xe này là của cha ông tên là Tiết Niệm H1 mua cho ông vào tháng 12/2023 - phù hợp lời khai ông H1 tại Cơ quan điều tra - BL50), nên đã xử lý trả lại cho ông H (theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 07/4/2024 của Công an Quận 6 - BL119), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[7.2] Đối với 01 USB màu trắng (chứa file dữ liệu ghi lại hình ảnh liên quan đến việc Võ Hùng T lấy trộm chiếc xe đạp điện tại nhà số 23/2 đường MP, Phường E, Quận F vào ngày 05/3/2024) do ông Tiết Niệm H1 cung cấp, đã được niêm phong, bên ngoài có hình dấu tròn của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (BL136), là chứng cứ lưu hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Võ Hùng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Võ Hùng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024.

- Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Võ Hùng T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Bị cáo Võ Hùng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Tiết Chí H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 6;
  • - Công an Quận 6;
  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Công an Tp. Hồ Chí Minh (Phòng PV06);
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thùy Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Xử phạt bị cáo Võ Hùng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2024. - Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Võ Hùng T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. - Bị cáo Võ Hùng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Tiết Chí H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger