|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 29/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Luyện
- Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê, ông Nguyễn Hoàng Tâm, ông Trần Văn Khiêm.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 126/2024/HSST-QĐ ngày 23/9/2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1958, tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Số nhà A, tầng 1, khu tập thể Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1926 (đã chết) và bà Thân Thị N, sinh năm 1928 (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị B1, sinh năm 1956 và có 02 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1987.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/6/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Duy T- Văn phòng Luật sư Đồng Tâm và Cộng sự Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
* Bị hại:
- Ông Đỗ Đức K, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1965 (vắng mặt)
- Ông Vũ Văn K1, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1960 (ông T1 đã chết ngày 12/01/2024)
- Bà Đào Thị M, sinh năm 1963 (vắng mặt) )
- Anh Đỗ Đức K2, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Anh Đỗ Văn k, sinh năm 1984 (vắng mặt)
- Chị Đỗ Thị Lan A, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn P, L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Số 638 phố Đồi Ngô, thị trấn Đồi Ngô,Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Nơi cư trú: Thôn Tuấn Thịnh, xã Tân Thanh, Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Người đại diện hợp pháp của bị hại (ông Đỗ Văn T1):
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, xã P, L,Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố B,Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố P, xã P,L, Bắc Giang.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Ẩ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của người đại diện hợp pháp của ông Đỗ Văn T1: Bà Đào Thị M, sinh năm 1963, địa chỉ:Tổ dân phố P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1957 (vắng mặt)
- Bà Thân Thị X, sinh năm 1960 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1956 (vắng mặt)
- Anh Bùi Văn T2, sinh năm 1986 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, Y, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Số A, tầng 1, khu tập thể Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Số nhà A, đường L, TDP G, phường D, thành phố B.
Nơi cư trú: Số A T, tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: Số A đường N, tổ H, phường N, thành phố B.
Nơi cư trú: Tổ dân phố Hoàng Mai 2, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Nơi cư trú: Số C, đường C, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1960 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn M, xã N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1958, trú tại số A tầng 1, khu tập thể Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang không phải là công chức, viên chức của Sở Nội vụ tỉnh B, không có vai trò trong Hội đồng thi tuyển công chức, viên chức; đồng thời cũng không có vai trò, nhiệm vụ gì trong Xí nghiệp M1. Tuy nhiên, Đ đã dùng thủ đoạn giới thiệu và thông tin cho nhiều người biết mình có mối quan hệ với lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh B nên có khả năng xin được việc làm trong một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cho những người có nhu cầu xin việc. Từ đó có nhiều người tin tưởng nên đã trực tiếp hoặc thông qua người khác đưa tiền cho Đ sau đó bị Đ chiếm đoạt. Bằng thủ đoạn nêu trên, Đ đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 05 bị hại với tổng số tiền 635.000.000đồng. Cụ thể như sau:
1. Chiếm đoạt của ông Đỗ Đức K, sinh năm 1957, trú tại số nhà C, phố S, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố S, thị trấn P) số tiền 180.000.000 đồng.
Đầu năm 2012, thông qua mối quan hệ quen biết, Đ đã hứa xin việc cho con trai của ông Đỗ Đức K là Đỗ Đức C, sinh năm 1989 đã tốt nghiệp ngành Kỹ thuật viên xét nghiệm đa khoa trường Đại học Y - Đại học T6 vào làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B với chi phí hết khoảng 150.000.000đồng đến 200.000.000đồng thì ông K đồng ý và chuẩn bị hồ sơ xin việc của anh C đưa cho Đ. Ngày 05/01/2012, ông K cầm số tiền 150.000.000đồng xuống đưa cho Đ, giữa hai bên có viết “giấy biên nhận tiền”. Đồng hứa hẹn khoảng 02 tháng sau anh C sẽ có quyết định đi làm. Đến ngày 04/02/2013, Đ bảo ông K nếu muốn nhanh có quyết định cho con trai đi làm thì phải đưa thêm 30.000.000đồng. Do đó, ông K tiếp tục đưa cho Đ 30.000.000đồng, giữa hai bên có viết “giấy vay tiền”. Sau đó, Đ không xin được việc cho con trai ông K như đã hứa hẹn, nhiều lần lấy lý do và tránh mặt ông K nên ông K yêu cầu Đ phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận. Đến ngày 26/11/2013, Đ viết giấy hẹn trả tiền và hứa đến ngày 10/12/2013 sẽ trả cho ông K 170.000.000đồng (số tiền 10.000.000 đồng, Đ nói với ông K đã sử dụng chi phí thuốc nước) tuy nhiên Đ không trả tiền như đã hứa. Khoảng tháng 4/2014 và tháng 7/2014, ông K đến nhà Đ để đòi tiền thì bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1956 (vợ của Đ) đứng ra trả thay cho Đ tổng số tiền 45.000.000đồng. Ngày 09/8/20216, ông K làm đơn tố giác Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Vào các ngày 24/6/2023, 17/9/2023, 05/02/2024, 16/3/2024, bà Thân Thị X, sinh năm 1960, trú tại thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là bạn của Đ) đã trả cho ông K thay cho Đ tổng số tiền 86.000.000đồng.Đến ngày 17/6/2024, bà X tiếp tục trả cho ông K 34.000.000đồng. Số tiền 5.000.000đồng còn lại ông K không yêu cầu Đ phải trả cho ông K. Đến nay, ông K xác định Đ đã hoàn trả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho ông K.
2. Chiếm đoạt của ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1960, trú tại thôn P, xã P, huyện L (nay là Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L số tiền 150.000.000đồng - ông T1 đã chết ngày 12/01/2024).
Năm 2012, thông qua mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1962, trú tại số C, đường C, tổ dân phố P, phường D, thành phố B, Đ hứa hẹn xin việc cho con gái ông T1 là chị Đỗ Thị Lan A, sinh năm 1988, đã tốt nghiệp Khoa huyết học trường T6 được vào làm việc tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B với chi phí là 150.000.000đồng. Khoảng tháng 6/2012, ông T1 đưa trước cho Đ 50.000.000 đồng và hồ sơ xin việc, hẹn khi nào có quyết định sẽ đưa nốt 100.000.000 đồng. Đồng hẹn ông T1 khoảng 2-3 tháng sau sẽ có quyết định đi làm. Khoảng tháng 8/2012, Đ đến nhà ông T1 bảo ông T1 phải đưa tiếp 100.000.000 đồng thì mới lấy được quyết định. Khoảng tháng 10/2012, ông T1 đưa cho Đ 100.000.000 đồng. Khi đưa tiền, Đ và ông T1 đều viết giấy giao nhận tiền. Sau đó, Đ không xin được việc cho chị Lan A như đã hứa nên ông T1 yêu cầu Đ phải hoàn trả lại tiền. Đến tháng 10/2013, Đ trả cho ông T1 80.000.000đồng và lấy lại giấy biên nhận trước đó, đồng thời viết giấy nhận nợ mới với số tiền 70.000.000đồng. Ngày 20/12/2013, Đ trả cho ông T1 15.000.000đồng, lấy lại giấy nhận nợ 70.000.000đồng và viết “giấy vay tiền” 55.000.000đồng. Đến ngày 04/8/2016, ông T1 làm đơn tố giác Đồng đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Các ngày 24/6/2023 và 17/9/2023, bà X đưa cho ông K để trả cho ông T1 tổng số tiền 55.000.000 đồng còn lại. Đến nay, người đại diện hợp pháp của ông T1 không yêu cầu bồi thường thêm.
3. Chiếm đoạt của bà Phạm Thị H, sinh năm 1965, trú tại số nhà F, tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L số tiền 170.000.000 đồng.
Năm 2013, thông qua mối quan hệ quen biết, Đ hứa xin việc cho con gái bà H là Phạm Thị Thu H3, sinh năm 1990, đã tốt nghiệp Học viện ngân hàng vào làm kế toán tại Bệnh viện đa khoa huyện L (nay là trung tâm y tế huyện L) với chi phí là 170.000.000đồng. Ngày 15/6/2013, bà H đưa cho Đ số tiền 70.000.000đồng cùng hồ sơ xin việc. Đến ngày 20/6/2013, bà H tiếp tục đưa cho Đ 100.000.000đồng. Các lần nhận tiền, Đồng đều viết giấy biên nhận với bà H. Sau khi nhận tiền khoảng 03 ngày, Đ thông báo cho bà H về việc không xin được việc cho chị H3 theo đúng nguyện vọng nên bà H yêu cầu Đ hoàn trả tiền. Đến ngày 25/6/2013, Đ trả cho bà H 100.000.000đồng và lấy lại giấy biên nhận tiền ngày 20/6/2013. Khoảng tháng 8/2013, Đ trả cho bà H 03 lần với tổng số tiền 36.500.000đồng. Ngày 04/8/2016, bà H làm đơn tố giác Đ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Các ngày 24/6/2023 và 17/9/2023, bà X trả thay cho Đ 33.500.000đồng còn lại. Đến nay, bà H xác nhận Đ đã hoàn trả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bà H.
4. Chiếm đoạt của ông Vũ Văn K1, sinh năm 1961, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 110.000.000 đồng
Năm 2014, thông qua mối quan hệ quen biết xã hội, Đ bảo với ông K1 có quan hệ với lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh B có khả năng xin được việc cho người khác, nếu có trường hợp nào thì thông tin cho Đ. Thời điểm này, bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1961, trú tại số A T, tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L có 02 trường hợp là chị Phạm Diệu L, sinh năm 1989, tốt nghiệp Trung cấp Dược tại Trường Đại học T6 (con gái ông Phạm Văn T3, sinh năm 1961, trú tại số A, đường N, tổ H, phường N, thành phố B) và chị Nguyễn Thị Kiều D, sinh năm 1992, tốt nghiệp Trường Cao đẳng S, Bắc Giang (con gái ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1972, trú tại tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang) chưa xin được việc nên đã liên hệ với ông K1 nhờ xin việc giúp. Qua trao đổi với Đ, Đ hứa sẽ xin việc cho chị L vào làm việc tại Trạm y tế trong thành phố B, chị D vào làm giáo viên tại Trường C1 trên địa bàn huyện V, mỗi trường hợp chi phí là 120.000.000đồng. Sau đó, ông K1 đã trao đổi với bà H1 về chi phí xin việc, trước mắt mỗi trường hợp nộp 70.000.000đồng. Bà H1 đã nhận từ ông T3 và ông T4 mỗi người 70.000.000đồng cùng hồ sơ xin việc của chị L và chị D và đưa số tiền trên cho ông K1 để xin việc cho chị L, chị D. Ngày 08/6/2014, ông K1 đưa cho Đ 02 hồ sơ xin việc và 50.000.000đồng. Ngày 17/6/2014, ông K1 tiếp tục đưa cho Đ 60.000.000đồng. Khi nhận tiền, Đồng đều viết giấy vay tiền và hứa sau 02 tháng sẽ có quyết định đi làm. Sau đó, do Đ không xin được việc nên ông K1 yêu cầu Đ trả lại tiền thì ngày 03/9/2014, Đ trả cho ông K1 40.000.000 đồng và viết giấy nhận nợ 70.000.000đồng. Ngày 24/4/2016, Đ trả ông K1 tiếp 40.000.000đồng và viết giấy khất nợ 30.000.000đồng. Tháng 9/2016, sau khi ông K1 gửi đơn tố giác Đ thì Đ trả cho ông K1 thêm 5.000.000đồng. Ngày 17/02/2024, Đ trả cho ông K1 25.000.000đồng còn lại. Đến nay xác định Đ đã trả lại hết số tiền đã chiếm đoạt cho ông K1.
5. Chiếm đoạt của bà Hà Thị Đ2, sinh năm 1961, trú tại thôn G, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 25.000.000đồng.
Năm 2014, thông qua mối quan hệ quen biết, Đ hứa xin cho cháu gái bà Đ2 là Trần Thị Đ1, sinh năm 1992, ở trọ tại nhà bà Đ1, đã tốt nghiệp bằng Đại học quản lý hành chính được vào làm kế toán tại Xí nghiệp M1 (nay là Công ty Cổ phần T7) với chi phí 50.000.000 đồng, Đ yêu cầu nộp hồ sơ và đưa trước 25.000.000 đồng. Ngày 09/10/2014 và 03/11/2014, bà Đ2 đã đưa cho Đ tổng số tiền 25.000.000đồng và hồ sơ xin việc. Đ đã viết “giấy nhận tiền” đưa cho bà Đ2. Sau đó, do Đ không xin được việc nên bà Đ2 đã yêu cầu Đ phải hoàn trả lại tiền. Đến tháng 9/2016, bà Đ2 làm đơn tố giác gửi Công an tỉnh B thì Đ trả lại bà Đ2 số tiền 25.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Đ khai nhận: Đồng có quen biết với bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1957, trú tại thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và được bà Đ1 giới thiệu có mối quan hệ trong Sở Nội vụ tỉnh B. Do đó, Đ đã đưa ra thông tin với ông K, ông T1, bà H, ông K1, bà Đ2 là bản thân có khả năng xin được việc. Sau đó, Đ đã nhận của những người trên tổng số tiền 635.000.000đồng và hồ sơ xin việc. Đ đã chuyển tiền cùng hồ sơ cho bà Đ1 để xin việc giúp những người thân của họ. Riêng đối với trường hợp bà Đ2 nhờ xin việc thì Đ giữ lại hồ sơ và tiền để sử dụng chi tiêu cá nhân. Sau đó, do bà Đ1 không lo được việc nên đã hoàn trả lại tiền cho Đ. Đ không trả lại cho các bị hại mà sử dụng số tiền trên để chi tiêu và trả nợ.
Quá trình điều tra, ông K, ông T1, bà H, ông K1, bà Đ2 giao nộp các giấy tờ thể hiện việc giao nhận tiền với Nguyễn Hữu Đ. Ngày 26/9/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết đối với các tài liệu trên. Tại Kết luận giám định số 1135/KL-PC54 ngày 03/10/2016, Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định so với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Hữu Đ là do cùng một người ký, viết ra (BL 56).
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Sở Nội vụ tỉnh B và Công ty Cổ phần T7, kết quả: Nguyễn Hữu Đ không phải là công chức, viên chức của Sở Nội vụ tỉnh B, không có vai trò trong Hội đồng thi tuyển công chức, viên chức; không có vai trò, nhiệm vụ gì trong Xí nghiệp M1 (nay là Công ty Cổ phần T7). Năm 2013, anh Đỗ Đức C và chị Đỗ Thị Lan A có trong danh sách nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức vào vị trí trung cấp xét nghiệm nhưng không trúng tuyển; chị Phạm Thị Thu H3 có trong danh sách nộp hồ sơ dự tuyển viên chức vào Bệnh viện đa khoa huyện L nhưng không trúng tuyển. Năm 2015, chị Nguyễn Thị Kiều D có trong danh sách nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức vào vị trí giáo viên mầm non tại huyện V và đã trúng tuyển. Tuy nhiên, các hồ sơ đăng ký dự tuyển viên chức trên không phải do Đ hay bà Đ1 nộp. Năm 2014 đến nay, Công ty Cổ phần T7 không tiếp nhận hồ sơ xin việc của chị Trần Thị Đ1 vào làm kế toán tại Công ty (BL 231, 233).
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền đã chiếm đoạt, bị cáo Đ đã trực tiếp và tác động bà Thân Thị X, sinh năm 1960, trú tại thôn A, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, bà Nguyễn Thị B1 đến nay đã hoàn trả lại đầy đủ cho các bị hại. Các bị hại không yêu cầu Đ phải trả khoản tiền nào khác, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ.
Đối với trường hợp của bà Trần Thị Đ3, quá trình điều tra xác định vào các ngày 09/10/2014 và 03/11/2014, Đ đã chiếm đoạt của bà Đ3 tổng số tiền 25.000.000đồng, đến nay xác định hành vi này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS- P2 ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Hữu Đ khai: Bị cáo không phải là công chức, viên chức của Sở Nội vụ tỉnh B, không có vai trò trong Hội đồng thi tuyển công chức, viên chức; không có vai trò, nhiệm vụ gì trong Xí nghiệp M1. Bị cáo đã nói dối các bị hại là có khả năng xin việc và hứa sẽ xin việc cho người thân của họ để chiếm đoạt số tiền 635.0000.000đồng như Cáo trạng nêu. Toàn bộ hồ sơ, số tiền nhận của các bị hại bị cáo đã giao cho bà Đ1 nhưng không có giấy tờ gì, không ai biết, chứng kiến.Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều khoản, điểm là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Thân Thị X, anh Bùi Văn T2 trình bày: Toàn bộ số tiền bồi thường, hoàn trả cho các bị hại là tiền của bị cáo tác động nhờ trả giúp, không phải tiền của bà X, anh T2 nên không yêu cầu gì.
Người làm chứng – ông Nguyễn Văn N1 trình bày: Ông đi cùng bà X đến trả tiền cho các bị hại do bị cáo nhờ trả. Toàn bộ số tiền trả cho các bị hại là của bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng a khoản 4 Điều 139; điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) để xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý tài sản thu giữ: Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu Đ4 số tiền 10.000.000đồng do ông Nguyễn Hữu H4 tự nguyện nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo biên lai thu tiền số 0000981 ngày 19/6/2024.
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người cao tuổi theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thành khẩn khai nhận tất cả hành vi phạm tội, tỏ ra năn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã khắc phục đầy đủ cho bị hại, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 6năm từ đến 7 năm tù.
Bị cáo nhất trí với bào chữa của người bào chữa, không bổ sung, tranh luận gì. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận gì
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức việc làm của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nđã được tống đạt giấy báo phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có lời khai của họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được. Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định số 1135/KL-PC54 ngày 03/10/2016 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận về chữ viết, chữ ký trên các giấy biên nhận tiền bị cáo, các bị hại cung cấp và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Nguyễn Hữu Đ không phải là công chức, viên chức của Sở Nội vụ tỉnh B, không có vai trò trong Hội đồng thi tuyển công chức, viên chức; đồng thời cũng không có vai trò, nhiệm vụ gì trong Xí nghiệp M1. Tuy nhiên, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối giới thiệu và thông tin cho nhiều người biết mình có mối quan hệ với lãnh đạo Sở Nội vụ tỉnh B nên có khả năng xin được việc làm trong một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cho những người có nhu cầu xin việc, mục đích tạo lòng tin của chủ sở hữu tài sản đề họ đưa tiền cho bị cáo để bị cáo chiếm đoạt. Với thủ đoạn gian dối nêu trên, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2014 bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã chiếm đoạt tổng số tiền 610.000.000đồng (sáu trăm mười triệu đồng) của 05 bị hại gồm ông Đỗ Đức K (số tiền 180.000.000đồng), ông Đỗ Văn T1 ( số tiền 150.000.000đồng), ông Vũ Văn K1 (số tiền 110.000.000đồng), bà Phạm Thị H (số tiền 170.000.000đồng). Đối với trường hợp của bà Trần Thị Đ3, quá trình điều tra xác định vào các ngày 09/10/2014 và 03/11/2014, bị cáo Đ đã chiếm đoạt của bà Đ3 tổng số tiền 25.000.000đồng. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 2015 xác định hành vi này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của các bị hại, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý, mục đích vụ lợi, tài sản chiếm đoạt là 610.000.000đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật. Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự 2015, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản, điểm trên là có căn cứ và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009), quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xét xử đối với bị cáo.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý bất an cho người dân. Do vậy cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
[5] Về về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi chiếm đoạt của 05 người bị hại với tổng số tiền 610.000.000đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tác động gia đình tự nguyện hoàn trả khắc phục đầy đủ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có mẹ đẻ (bà Thân Thị N) là người có công cách mạng được tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và có anh ruột (Liệt sỹ Nguyễn Hữu T5) được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, chứng nhận Tổ quốc ghi công; bị cáo được Ty Công an Hà Bắc tặng giấy khen vào năm 1980,1986. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù giam để đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người cao tuổi, không có công việc, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã hoàn trả cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường, hoàn trả gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai có quen biết với bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1957, trú tại thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và được bà Đ1 giới thiệu có mối quan hệ trong Sở Nội vụ tỉnh B. Do đó, bị cáo đã đưa ra thông tin với ông K, ông T1, bà H, ông K1, bà Đ3 là bản thân có khả năng xin được việc và sau đó bị cáo đã nhận của những người trên tổng số tiền 635.000.000đồng cùng hồ sơ xin việc. Bị cáo đã chuyển tiền cùng hồ sơ cho bà Đ1 để xin việc giúp những người thân của họ. Sau đó, do bà Đ1 không lo được việc nên đã hoàn trả lại tiền cho bị cáo.
Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai của bà Đ1. Ban đầu bà Đ1 khai không được nhận hồ sơ xin việc nào từ bị cáo Đ, giữa bà Đ1 và Đ chỉ có việc vay mượn cá nhân số tiền 70.000.000đồng. Đến ngày 15/02/2024, bà Đ1 khai đã nhận 03 hồ sơ dự tuyển và số tiền khoảng 70.000.000đồng đến 80.000.000 đồng từ bị cáo Đ nhưng không nhớ rõ cụ thể trường hợp nào, không có giấy tờ, tài liệu chứng minh. Sau khi nhận tiền và hồ sơ, do quá hạn dự tuyển nên bà Đ1 không nộp được hồ sơ. Sau đó, bà Đ1 thay đổi lời khai, khẳng định không có việc nhận tiền và hồ sơ từ bị cáoĐồng để xin việc cho người khác. Cơ quan điều tra đã cho bị cáo và bà Đ1 đối chất, tuy nhiên các bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của bị cáo và bà Đ1 thì không có tài liệu khác chứng minh. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với bà Đ1.
[11] Đối với ông Nguyễn Văn H2: Quá trình điều tra xác định ông H2 có giới thiệu ông Đỗ Văn T1 đến gặp bị cáo Đ để lo xin việc cho con gái ông T1, tuy nhiên giữa ông H2 và bị cáo Đ không có bàn bạc gì về việc ăn chia, chiếm đoạt tiền của ông T1, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với hành vi của ông H2. Quá trình giải quyết, ông H2 đã tự nguyện nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang 10.000.000đồng là số tiền được bị cáo Đ cho. Tại phiên tòa bị cáo khai số tiền 10.000.000đồng đưa cho ông H2 là tiền riêng của bị cáo, không phải tiền có được từ việc chiếm đoạt của các bị hại. Số tiền này ông H2 tự nguyện nộp lại nền cần trả lại bị cáo.
[12] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[14] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 139; điểm b,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009).
Căn cứ khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- 1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 14/6/2024.
- 2. Về xử lý tài sản thu giữ: Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu Đ số tiền 10.000.000đồng do ông Nguyễn Hữu H4 tự nguyện nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang theo biên lai thu tiền số 0000981 ngày 19/6/2024.
- 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Hữu Đ.
- 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu D phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
