|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày: 14 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Bích Tuyền và ông Nguyễn Thanh Trang.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Cao Văn X, sinh năm 1995, tại C - An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn X1 (đã chết) và bà Lê Thị T; vợ là Nguyễn Thị Thanh M và có 04 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2024;
Nhân thân: Ngày 15-3-2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 14-11-2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-5-2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Huỳnh Thị Bích S, sinh năm 1985, nơi cư trú: tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1996, nơi cư trú: tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Lê Thị S1, sinh năm 1968, nơi cư trú: tổ F, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1960, nơi cư trú: tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964, nơi cư trú: tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Lê Văn N1, sinh năm 1950, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị X2, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ A, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Ông Khúc Thanh T1, sinh năm 1995, nơi cư trú: số C T, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bà Phan Trịnh Đăng G, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1991, (vắng mặt); Nguyễn Hữu N2, sinh năm 1982, (văng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29-4-2024, Cao Văn X đi bộ một mình từ nhà vợ của X thuộc tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang đến tiệm tạp hoá gần nhà để mua đồ cá nhân. Khi đi về nhà, đi ngang nhà chị Huỳnh Thị Bích S gần nhà vợ X thấy cửa ban công tầng 01 đang mở, Xiết quan sát thấy cửa chính khoá ngoài, biết trong nhà không có người trông giữ nên X nảy sinh ý định vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Xiết leo đứng hàng rào trước nhà rồi trèo lên ban công đi theo đường cửa đang mở vào phòng ngủ của chị S, thấy có tủ nhôm đặt trong phòng ngủ, X đi đến mở cửa tủ lấy trộm 01 ví màu đen (không rõ chất liệu) và một bọc nhựa bên trong có 01 ví vải màu đỏ cất giấu vào người rồi đi ra khỏi nhà chị S theo đường vừa đột nhập trước đó. Ra khỏi nhà chị S, X liền kiểm tra tài sản vừa lấy trộm được gồm: trong ví màu đen có giấy tờ tuỳ thân và nhiều hoá đơn mua bán vàng; trong ví vải màu đỏ có 03 hộp nhựa (màu đỏ, hình tròn, loại hộp đựng vàng), bên trong 03 hộp nhựa có 01 sợi dây chuyền có gắn mặt dây chuyền (loại vàng ý), 01 sợi dây chuyền vàng có gắn mặt dây chuyền (loại 18kara), 01 nhẫn vàng 18kara, 02 bông tai bằng vàng 18kara, 01 lắc tay bằng vàng 18kara và nhiều khoen móc vàng 18kara. Sau đó, X cất giấu số vàng trên vào trong người đợi sáng tìm chỗ bán, 02 ví vải và các hoá đơn mua bán vàng Xiết ném bên hông nhà Nguyễn Văn Ú (cạnh nhà chị S) rồi đi về nhà ngủ.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30-4-2024, X thuê xe ôm của người đàn ông lạ mặt (không rõ họ tên và địa chỉ) chở X cùng số vàng lấy trộm được đến tiệm vàng “Sáu Hưởng” thuộc phường T, thị xã T, tỉnh An Giang bán cho chị Nguyễn Thị X2 (là nhân viên của tiệm) được 43.306.000 đồng. Số tiền bán vàng có được, X đến Đ thuộc phường N, thành phố C gặp Phan Trịnh Đăng G (là nhân viên bán hàng) mua 02 điện thoại di động cùng nhãn hiệu Xiaome Redmi Note 13 với số tiền là 10.800.000 đồng rồi X đưa cho Nguyễn Thị Thanh M (vợ X) sử dụng. Sau đó X đến cửa hàng “Toàn T2” thuộc khóm H, phường V, thành phố C mua của Khúc Thanh T1 (là chủ tiệm) 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số 67M1-131.10 với giá 8.500.000 đồng và sửa xe hết 2.150.000 đồng, X sử dụng xe máy này làm phương tiện đi lại. Số tiền còn lại X đưa cho Lê Thị S1 (dì ruột X) giữ giùm 10.000.000 đồng; cho Lê Thị T (mẹ ruột X) 3.000.000 đồng; Nguyễn Thị N (mẹ vợ X) 3.000.000 đồng và Lê Văn N1 (cậu ruột X) 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Xiết tiêu xài cá nhân hết. Sáng ngày 30-4-2024, chị S phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Công an phường C trình báo. Ngày 01-5-2024, X đến Công an phường C A đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ: Tiền Việt Nam 17.000.000 đồng; 01 xe mô tô biển số 67M1-131.10, màu sơn: đen - trắng, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67M1-131.10; 03 hộp nhựa màu đỏ, tròn, hình vỏ sò; 01 ví vải màu đỏ; 01 ví màu đen (không rõ chất liệu) và quần áo của X. Đã trả lại cho bị hại S: tiền Việt Nam 17.000.000 đồng; 01 ví màu đỏ; 01 ví màu đen; 01 hộp nhựa màu đỏ, tròn, hình vỏ sò.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 1047/KL-ĐG ngày 04-5-2024 và Kết luận định giá tài sản số 1884/KL-ĐG ngày 22-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C xác định: 01 sợi dây chuyền bằng vàng ý (vàng 750), kiểu xoắn trọng lượng 2 chỉ 7 ly 7 phân, trị giá 10.393.000 đồng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng ý (vàng 750) hình bông mai có đính đá có tổng trọng lượng 1 chỉ 2 ly 2 phân, trị giá 4.577.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18kara (loại vàng 590), trọng lượng 5 phân 8 ly, trị giá 2.389.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18kara (loại vàng 590), trọng lượng 4 phân 9 ly, trị giá 2.018.000 đồng; 01 lắc tay vàng 18kara (loại vàng 600), trọng lượng 2 chỉ 4 phân 7,2 ly, trị giá 10.184.000 đồng; 01 đôi bông tai vàng 18kara, trọng lượng 6 phân 5 ly, trị giá 3.489.000 đồng; khoen móc vàng 18kara, trọng lượng 01 chỉ, trị giá 5.368.000 đồng; 01 ví màu đỏ bằng vải nhung, kích thước ví 8cm x 20cm, không rõ nhãn hiệu, giá trị, thời gian mua, do không đủ cơ sở dữ liệu nên không định giá; 01 ví hình chữ nhật kích thước 10cm x 18cm, không rõ chất liệu, nhãn hiệu, giá trị, thời gian mua, do không đủ cơ sở dữ liệu nên không định giá được. Tổng trị giá: 44.392.000 đồng (bút lục số 85-86; 92).
Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 1884/KL-ĐG ngày 22-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C ghi nhận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, biển số 67M1-131.10, trị giá 9.000.000 đồng (bút lục số 92).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C khởi tố, tạm giam Cao Văn X để điều tra, xử lý.
Tại Cáo trạng số 81/CT-VKSCĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Cao Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015).
Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Cao Văn X khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Thống nhất giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo Hội đồng định giá định là 44.392.000 đồng. Xác định số vàng trộm bán được 43.306.000 đồng, bà S đã nhận lại số tiền 17.000.000 đồng do bà S1, bà T, bà N và ông N1 nộp lại; đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền còn lại cho bà S.
Bị hại có mặt tại phiên toà cung cấp lời khai phù hợp với nội dung cáo trạng nêu trên. Đồng ý kết luật định giá của Hội đồng định giá đối với số vàng bị mất trộm, thống nhất giá trị thiệt hại tài sản theo đúng giá trị tài sản mà bị cáo trộm được đem bán là 43.306.000 đồng, đã nhận lại 17.000.000 đồng, số tiền còn lại 26.306.000 đồng yêu cầu bị cáo bồi thường. Có yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thị T có mặt tại phiên toà cung cấp lời khai phù hợp với nội dung cáo trạng nêu trên. Xác định bị cáo có cho 3.000.000 đồng, có hỏi bị cáo tiền đâu có nhưng bị cáo không trả lời, không biết tiền do bị cáo trộm cắp mà có. Xác định đã giao nộp lại số tiền 3.000.000 đồng, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề bị cáo sớm về gia đình lo cho các con vì hiện nay vợ bị cáo cũng nghiện ma túy và đã bỏ nhà đi đâu không ai biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 119-126, 129-144, 154-160).
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Cao Văn X từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và c1c Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị tịch thu, tiêu hủy quần áo của bị cáo X thu giữ trong vụ án do không còn giá trị sử dụng; giao trả cho ông Khúc Thanh T1 01 xe mô tô biển số 67M1-131.10 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 67M1-131.10, buộc ông T1 giao nộp lại số tiền 8.500.000 đồng cho cơ quan Thi hành án tạm giữ để đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ của bị cáo cho bị hại; buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền còn lại 26.306.000 đồng.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị T không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo cũng không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị Thanh M, Lê Thị S1, Nguyễn Thị N, Lê Văn N1, Nguyễn Thị X2, Khúc Thanh T1 (có đơn xin xét xử văng mặt), Phan Trịnh Đặng G1 và những người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29-4-2024, tại nhà của bị hại Huỳnh Thị Bích S thuộc tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, lợi dụng cửa ban công tầng 01 nhà bị hại không khoá, bị cáo đã có hành vi lén lút đột nhập vào bên trong nhà bị hại để chiếm đoạt 01 sợi dây chuyền có gắn mặt dây chuyền (loại vàng ý), 01 sợi dây chuyền vàng có gắn mặt dây chuyền (loại vàng 18kara), 01 nhẫn vàng 18kara, 02 bông tai bằng vàng 18kara, 01 lắc tay bằng vàng 18kara và nhiều khoen móc vàng 18kara. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 44.392.000 đồng. Phát hiện mất trộm, bị hại S trình báo Công an phường C, thành phố C.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy sử dụng mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện giao nộp chiếc xe cho Công an để khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại; đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu vì đã bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” vào năm 2017 và “Trộm cắp tài sản” vào năm 2019. Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với quần áo thu giữ của bị cáo X là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, đây là vật có giá trị chứng minh tội phạm, các vật này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 67M1-131.10 nhãn hiệu Yamaha cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 67M1-131.10: Việc mua bán xe giữa bị cáo với ông Khúc Thanh T1 là giao dịch trái pháp luật do bị cáo sử dụng tiền bán tài sản trộm cắp mà có được đề mua xe. Do không xác định được chủ sở hữu xe và hợp đồng mua bán này vô hiệu, đồng thời ông Khúc Thanh T1 cũng đồng ý giao nộp lại số tiền bị cáo đã mua xe nên cần buộc ông T1 giao nộp lại số tiền mua xe của bị cáo là 8.500.000 đồng cho cơ quan thi hành án tạm giữ để đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ của bị cáo bồi thường thiệt hại đối với bị hại; giao trả lại chiếc xe xe mô tô biển số 67M1-131.10 nhãn hiệu Yamaha cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 67M1-131.10 cho ông Khúc Thanh T1.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại S thống nhất tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 43.306.000 đồng, đã nhận lại 17.000.000.000, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại số tiền còn lại 26.306.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý tiếp tục có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 26.306.000 đồng nên buộc bị cáo Cao Văn X có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Huỳnh Thị Bích S số tiền 26.306.000 đồng (hai mươi sáu triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
[8] Các vấn đề khác:
Việc bị cáo X lấy trộm tài sản của bị hại S bán lấy tiền mua điện thoại cho Nguyễn Thị Thanh M sử dụng; gửi và cho tiền Lê Thị S1, Lê Thị T, Nguyễn Thị N, Lê Văn N1; bán vàng cho Nguyễn Thị X2; mua xe mô tô của Khúc Thanh T1; mua điện thoại của Phan Trịnh Đăng G thì những người này không biết tiền và tài sản do Xiết trộm cắp của người khác mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị hại S khai nhận, ngoài số vàng bị bị cáo X lấy trộm thì bị hại còn bị mất số tiền 10.000.000 đồng; bị cáo X không thừa nhận lấy trộm 10.000.000 đồng của bị hại, ngoài lời khai của bị hại thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh bị cáo X lấy trộm số tiền trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không quy kết trách nhiệm hình sự đối với bị cáo X số tiền 10.000.000 đồng là có căn cứ.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.315.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Cao Văn X phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt Cao Văn X 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 01-5-2024 (ngày một, tháng năm, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ điềm a, điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) quần thun ngắn màu tím, 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, 01 (một) quần sọt kaki màu đỏ, 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh.
- Giao trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Khúc Thanh T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, biển số 67M1-131.10 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 013846 tên chủ xe Nguyễn Văn B.
- (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
- Buộc ông Khúc Thanh T1 giao nộp lại số tiền mua xe của bị cáo là 8.500.000 đồng cho cơ quan thi hành án tạm giữ để đảm bảo việc thi hành nghĩa vụ của bị cáo bồi thường thiệt hại đối với bị hại
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 589, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Cao Văn X có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Huỳnh Thị Bích S số tiền 26.306.000 (hai mươi sáu triệu, ba trăm lẻ sáu nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Cao Văn X phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.315.500 (một triệu, ba trăm mười lăm nghìn, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Cao Văn X, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thị T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Cao Văn Xiết - TCTS
