|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 16-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Nguyễn Thị Tư
Bà Phạm Thị Thao
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B lô A Công nhân D, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số A đường C, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Phạm Thị H2 và 03 con; tiền án: Tại Bản án số 235/HSST ngày 27/11/2003, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 81/2008/HSST ngày 11/4/2008, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 56/2010/HSST ngày 21/9/2010, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 170/2014/HSST ngày 23/9/2014, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 05/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 13/01/2024; có mặt.
2. Nguyễn Đồng T, sinh ngày 03 tháng 4 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D đường T, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đồng T1 và bà Phạm Thị Kim A; chưa có vợ, con; tiền án: Tại Bản án số 234/2011/HS-ST ngày 30/12/2011, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 10/2014/HSST ngày 16/01/2014 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 59/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 05/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 13/01/2024; có mặt.
- Bị hại: Anh Lưu Hoàng P, sinh năm 1996; nơi đăng ký thường trú: Số A đường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đỗ Thị Thanh T2, sinh năm 1995; nơi đăng ký thường trú: Số A đường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Vũ Thị Thanh T3, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 01/01/2024, Nguyễn Đồng T và Nguyễn Văn H rủ nhau đi trộm cắp tài sản. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen (không nhớ biển kiểm soát) chở H đi lang thang các tuyến phố để tìm sơ hở của người dân trộm cắp tài sản. Khoảng 06 giờ cùng ngày, khi đi gần đến số B đường L, phường L, quận N, Hải Phòng, H phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 15B3-046.87 dựng trên vỉa hè, song song với đường, đầu xe hướng về cầu vượt L, đuôi xe hướng về ngã tư Quán M không có người trông coi. H bảo T dừng xe để vào lấy trộm. H đi bộ vào dắt chiếc xe mô tô xuống lòng đường rồi ngồi lên xe chỉnh lái, T điều khiển xe mô tô Airblade màu đen, dùng chân đẩy cho chiếc xe Airblade biển kiểm soát 15B3-046.87, màu đỏ đen đi về nhà H ở số A đường C, phường N, quận L, Hải Phòng để cất giấu.
Ngày 01/01/2024, anh Lưu Hoàng P đến Công an phường L trình báo về việc khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, anh P dựng xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát: 15B3-046.87 ở vỉa hè trước cửa Ngân hàng Á tại số B đường L, phường L, quận N, Hải Phòng để rút tiền thì bị kẻ gian trộm cắp.
Ngày 05/01/2024, H, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như trên và giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 15B3-046.87.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL- HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân Quận N kết luận: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, mang BKS 15B3-046.87 tại thời điểm bị xâm hại có giá 25.300.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 114/CT-VKSNQ ngày 26 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17, Điều 53, Điều 58, Điều 38; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T;
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 39 tháng đến 45 tháng tù; bị cáo Nguyễn Đồng T từ 33 tháng đến 39 tháng tù, đều về tội Trộm cắp tài sản.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì về dân sự.
- - Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Tại phiên tòa, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 01/01/2024, tại khu vực vỉa hè trước cửa số B đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn H và Nguyễn Đồng T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B3-046.87 trị giá 25.300.000 đồng của anh Lưu Hoàng P. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương; đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[4] Bị cáo Nguyễn Văn H có 04 tiền án chưa được xóa án tích; lần phạm tội tại Bản án số 170/2014/HSST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã xác định là tái phạm nguy hiểm. Bị cáo Nguyễn Đồng T có 03 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội tại Bản án số 59/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xác định là tái phạm, nay bị cáo H, T lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo Điều 53 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung quy định tại điểm g “tái phạm nguy hiểm”.
- Về hình phạt:
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T đầu thú, đã trả lại tài sản trộm cắp và thành khẩn khai báo nên các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về vai trò: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T rủ nhau đi trộm cắp; bị cáo Nguyễn Văn H trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cất giấu tài sản tại nhà H nên bị cáo H có vai trò cao hơn bị cáo T.
[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết giảm nhẹ, vai trò của các bị cáo, xét cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[8] Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 15B3-046.87 mang tên chị Đỗ Thị Thanh T2 (là vợ của anh Lưu Hoàng P). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 960/QĐ-ĐCSHS ngày 03/4/2024 trả lại chiếc xe trên cho chị T2. Bị hại là anh P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị T2 không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[10] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Các vấn đề khác:
[11] Đối với chiếc xe Aiblade màu đen bị cáo Nguyễn Đồng T điều khiển để đi trộm cắp là do H mượn của một người đàn ông tên M (chưa xác định được căn cước, lai lịch). Ngày 02/01/2024, bị cáo H đã trả lại chiếc xe trên cho M, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng đến nay chưa xác định được.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17, Điều 58; Điều 53; Điều 38, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Văn H 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2024.
+ Bị cáo Nguyễn Đồng T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 01 năm 2024.
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Nguyễn Đồng T mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - Bị hại;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- - VKSND Quận Ngô Quyền;
- - VKSND TP. Hải Phòng;
- - TAND TP. Hải Phòng;
- - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
- - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
- - Công an Quận Ngô Quyền;
- - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
- - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
- - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Đào Thị Hồng Phương |
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Đồng T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Thị Tư Phạm Thị Thao |
Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án xét xử trực tuyến