Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 17 – 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Doãn Đức Hùng và bà Đào Thị Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXHS-ST ngày 27/3/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Kiếm B, sinh năm 1976, tại Sóc Trăng. Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã L, huyện T, tỉnh S. Chỗ ở hiện nay: Ấp Ngũ Phúc, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1955 (còn sống). Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1975. Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 05/12/2023 đến ngày 08/12/2023. Hiện bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

2. Dương Thị Ngọc T, sinh năm 1981, tại thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú: Khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Chổ ở hiện nay: Ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Phụ hồ. Con ông Dương Công T, sinh năm 1963 (còn sống) và bà Trần Thị N, sinh năm 1963 (còn sống). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Bị cáo có chồng tên Phạm Văn S, sinh năm 1975. Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ra tự thú ngày 04/12/2023, hiện đang được tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T là bạn bè quen biết nhau và cùng cư trú tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trong khoảng thời gian từ ngày 09/11/2023 đến ngày 30/11/2023, B và T cùng tham gia đánh bạc với nhau bằng hình thức đặt cược số lô, số đề thắng thua bằng tiền tại ấp N, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 04/12/2023, T đến Công an xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai để tự thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Về hình thức đánh bạc như sau: Trước khi có kết quả xổ số kiến thiết trong ngày, T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6S truy cập vào khoản zalo “Thanh thanh” để nhắn tin đặt cược số lô, số đề gửi đến tài khoản zalo “Sống Biển” của B. B sử dụng điện thoại di động hiệu Oppo A7 truy cập vào tài khoản zalo nhắn tin phản hồi việc đánh bạc với T. B và T tự quy định với nhau: Đối với đài miền Nam, cứ 01 điểm bao lô 02 số thì tương ứng số tiền đặt cược là 14.000 đồng, nếu trúng cược sẽ trúng được 70.000 đồng cho 01 lô trúng, đối với 01 điểm đá 01 cặp số thì tương ứng số tiền đặt cược là 28.000 đồng, nếu trúng cược sẽ trúng được 700.000 đồng cho 01 cặp số trúng. Đối với đài miền Bắc, cứ 01 điểm bao lô 02 số thì tương ứng số tiền đặt cược là 21.000 đồng, nếu trúng cược sẽ trúng được 70.000 đồng cho 01 lô trúng, đối với 01 điểm đá 01 cặp số thì tương ứng số tiền đặt cược là 42.000 đồng, nếu trúng cược sẽ trúng được 500.000 đồng cho 01 cặp trúng. Sau khi có kết quả xổ số cùng ngày thì B và T tính tiền thắng thua và trả tiền cho nhau.

Vật chứng thu giữ gồm: số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) bị cáo Nguyễn Kiếm B tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7.

Quá trình điều tra các đối tượng Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội đánh bạc của mình như sau:

  • + Ngày 09/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B (T và B không nhớ chính xác số lô, số đề đã đặt cược với nhau), tổng số tiền T đặt cược là 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi ngàn đồng). Kết quả T thua cược và thua B số tiền 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi ngàn đồng), T đã trả cho B số tiền 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi ngàn đồng). Tổng số tiền T và B sử dụng để đánh bạc là 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 10/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "68 bao 30n – 68.29 đá 5n 2 đài bd.vl” và “59 bao 30n – 59.15 đá 5n mb" với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.960.000 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng), B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 4.060.000 đồng (Bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 11/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "39 bao 30n – 39.99 đá 5n 2 đài tp.la” và “38 bao 30n – 38.59 đá 5n mb" với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.960.000 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng), B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 4.060.000 đồng (Bốn triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 12/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "12 bao 30n 912 bao 10n 2 đài tg.kg” và “38 bao 30n – 38.79.59 đá 5n mb" với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.380.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng), B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 4.480.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm tám mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 13/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "64 bao 50n 2 đài tp.đt” và “75 bao 50n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 14/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: “37.78.59 đá 5n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 630.000 đồng (Sáu trăm ba mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 15/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: “Cần thơ 25.52 bao 50n” và “57 bao 20n đn. Ct 2 đài” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.960.000 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 1.960.000 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 1.960.000 đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 16/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "32 bao 20n 2 đài tn.ag” và “39 bao 30n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.190.000 đồng (Một triệu một trăm chín mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 2.590.000 đồng (Hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 17/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "29 bao 30n 2 đài bd.vl” và “34.43.38 đá 5n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 3.570.000 đồng (Ba triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 18/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "39 bao 30n tp la 2 đài” và “68 bao 30n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 5.670.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 19/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: “68 bao 30n 2 đài tgkg” và “68 bao 30n – 68.86 đá 5n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.680.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 5.880.000 đồng (Năm triệu tám trăm tám mươi ngàn đông).
  • + Ngày 20/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "59 bao 30n tp.đt 2 đài” và “39 bao 30n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm ngàn đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 3.570.000 đồng (Ba triệu năm trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 21/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "14 bao 30n 2 đài bt.vt” và “41 bao 30n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 22/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "39 bao 30n 2 đài đn.ct” và “89.98.38 đá 5n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 23/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "59 bao 30n – 59.78 đá 5n 2 đài tn ag” và “68 bao 50n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 9.170.000 đồng (Chín triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 24/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "68 bao 40n 2 đài db.vl” và “68 bao 50n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 25/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "54 bao 30n – 54.30 đá 5n 2 đài tp. la” và “23.32.68 đá 5n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 26/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "68 bao 50n 2 đài tg.kg” và “72 bao 50n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 27/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "35 bao 50n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T thua cược và đã trả cho B số tiền 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng). Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
  • + Ngày 30/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B cụ thể các số sau: "32 bao 50n 2 đài tn ag” và “68 bao 50n mb” với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng) thì B đồng ý nhận đặt cược. Kết quả T trúng cược số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) và B đã trả cho T số tiền trên. Như vậy, tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 9.450.000 đồng (Chín triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Ngày 08/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T về tội “Đánh bạc” để điều tra. Quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKS-TB ngày 23/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: bị cáo Nguyễn Kiếm B từ mức án 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, r, s, khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Dương Thị Ngọc T mức án từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung công quỹ đối với số tiền 2.000.000 đồng; sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính theo quy định.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 09/11/2023 đến ngày 30/11/2023, tại ấp Ngũ Phúc, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Dương Thị Ngọc T và Nguyễn Kiếm B đã 04 lần thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau:

  • Lần thứ 01: Ngày 18/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.470.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng). Kết quả T trúng cược số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng). Tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 5.670.000 đồng (Năm triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • Lần thứ 02: Ngày 19/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B với tổng số tiền T đặt cược cho B là 1.680.000 đồng (Một triệu sáu trăm tám mươi ngàn đồng). Kết quả T trúng cược số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm ngàn đồng). Tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 5.880.000 đồng (Năm triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).
  • Lần thứ 03: Ngày 23/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.170.000 đồng (Hai triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng). Kết quả T trúng cược số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 9.170.000 đồng (Chín triệu một trăm bảy mươi ngàn đồng).
  • Lần thứ 04: Ngày 30/11/2023, T nhắn tin đặt cược số lô, số đề với B với tổng số tiền T đặt cược cho B là 2.450.000 đồng (Hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Kết quả T trúng cược số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Tổng số tiền T và B sử dụng vào việc đánh bạc là 9.450.000 đồng (Chín triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương và đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn. Các bị cáo trực tiếp đánh bạc thắng thua bằng tiền với nhau nên vai trò của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo.

[4] Xét nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về nhân thân:

[4.1.1] Các bị cáo Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.2.1] Bị cáo Nguyễn Kiếm B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4.2.2] Bị cáo Dương Thị Ngọc T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội tự thú đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

[4.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4.3.1] Các bị cáo Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[5] Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Các bị cáo Nguyễn Kiếm B và Dương Thị Ngọc T đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà vẫn đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm trong cộng đồng.

[6] Về vật chứng:

[6.1] Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7.

[6.2] Buộc bị cáo Nguyễn Kiếm B phải nộp số tiền 7.770.000 đồng (bảy triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính.

[6.3] Buộc bị cáo Dương Thị Ngọc T phải nộp số tiền 22.400.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính.

[7] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kiếm B phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Kiếm B 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
    • - Tuyên bố bị cáo Dương Thị Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt bị cáo Dương Thị Ngọc T 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
  3. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7.
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Kiếm B phải nộp số tiền 7.770.000 đồng (bảy triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003523 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bị cáo phải tiếp tục nộp số tiền 5.770.000 đồng (năm triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).
    • - Buộc bị cáo Dương Thị Ngọc T phải nộp số tiền 22.400.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

    (Toàn bộ số vật chứng nêu trên được bàn giao theo biên lai thu tiền số 0003523 ngày 06/03/2024 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/03/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).

  4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Nguyễn Kiếm B, Dương Thị Ngọc T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - THADS huyện Trảng Bom;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.
  • Mẫu 27-HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thành Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kiếm B và Đp có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger