Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THỦY

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 14 – 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quí

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Duy Suốt

2. Ông Huỳnh Văn Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Ni – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 686/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Hoàng Thanh T, sinh ngày: 29/12/2002 tại Cần Thơ. Nơi cư trú: Số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở: Số B, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khải H và bà Bùi Thị Tuyết N; anh chị ruột có 02 người (lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm: 2002); sống chung như vợ chồng với Lê Kim N1 và có 02 người con (lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024); tiền án: 01 lần, vào ngày 09/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/5/2023; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2024 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 12/7/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận B phối hợp với Công an phường L, quận B, thành phố Cần Thơ tiến hành tuần tra trên địa bàn. Khi đến tổ B, đường V, khu vực B, phường L thì phát hiện Nguyễn Minh T1 điều khiển xe mô tô chở Bùi Hoàng Thanh T có biểu hiện nghi vấn có liên quan đến ma túy nên yêu cầu dừng xe làm việc và bắt quả tang Bùi Hoàng Thanh T có hành vi tàng trữ 01 gói nilon không màu, nẹp miệng bên trong có chứa tinh thể không màu nghi là ma túy.

Quá trình điều tra đã chứng minh được: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 13 giờ ngày 12/7/2024, Bùi Hoàng Thanh T đi đến nhà của Nguyễn Minh T1 để thuê T1 chạy xe chở T đến cầu C thuộc phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ để lấy tiền; T1 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 65B1-912.04 chở T đến cầu C; đến nơi, T xuống xe đi bộ vào khoảng 40m để gặp người đàn ông tên H1 hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, H1 nhận tiền rồi đi vô nhà gần đó; khoảng 5 phút sau, H1 đi ra đưa cho T 01 gói nilon không màu, nẹp miệng chứa ma túy đá; T lấy gói ma túy để vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc rồi đi ra xe kêu T1 chở về. Khi đi đến đường V, tổ B, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ thì có lực lượng Công an tuần tra đi đến yêu cầu dừng xe làm việc, do sợ bị phát hiện nên T lấy gói ma túy trong túi quần ra buông xuống đường thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, tạm giữ gói ma túy và niêm phong.

Tại kết luận giám định số: 188/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1466gam.

Đối với Nguyễn Minh T1 không biết chở Bùi Hoàng Thanh T đi mua ma túy và T có cất giấu ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý.

Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho Bùi Hoàng Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã tiến hành điều tra nhưng không biết đặc điểm nhận dạng, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.

Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong số 188/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K Công an thành phố C, khối lượng mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,1163gam.

Tại bản cáo trạng số: 97/CT-VKSBT ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ đã truy tố Bùi Hoàng Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận quá trình điều tra và tại phiên tòa do bị cáo tự nguyện khai báo, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và thống nhất với nội dung Bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy nên mua về để sử dụng. Vào ngày 12/7/2024, bị cáo thuê Nguyễn Minh T1 điều khiển xe mô tô chở bị cáo đi lấy tiền nhưng thực tế là bị cáo đi mua ma túy. T1 chở bị cáo đến cầu C thuộc phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ; bị cáo xuống xe đi gặp người tên H1 mua 300.000 đồng ma túy đá, trên đường về đến đường V thuộc phường L, quận B, thành phố Cần Thơ thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; lượng ma túy theo kết luận giám định là của bị cáo. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ nên xin xem xét giảm nhẹ hình phạt. Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của Kiểm sát viên: Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức pháp luật; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Bản cáo trạng đã truy tố nên đề nghị giữ nguyên Bản cáo trạng truy tố bị cáo Bùi Hoàng Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo có 01 tiền án nhưng không biết cải sửa, thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo nên đề nghị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự để đảm bảo tính răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và đề nghị xét xử bị cáo với mức án từ 01 năm tù đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định.

Đối với Nguyễn Minh T1 không biết Bùi Hoàng Thanh T thuê chở đi mua ma túy và T có cất giấu ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý. Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho Bùi Hoàng Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã tiến hành điều tra nhưng không biết đặc điểm nhận dạng, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

[1] Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với nội dung Bản cáo trạng và quyết định đã truy tố; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ nhận thức pháp luật, biết rõ tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Vào ngày 12/7/2024, trên đường đi mua ma túy về sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện kiểm tra nên bị cáo đã lấy gói ma túy đã mua được từ trong túi quần phía trước đang mặc buông xuống đường; gói ma túy đã được thu giữ là của bị cáo có khối lượng đã được giám định 0,1466gam loại Methamphetamine nên cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay các loại tội phạm liên quan đến chất ma túy diễn ra ngày càng nhiều, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp; hệ lụy từ việc sử dụng trái phép chất ma túy là rất nặng nề cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương; Nhà nước đang tăng cường công tác đấu tranh, phòng chống đối với các loại tội phạm liên quan đến ma túy nên việc xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này là cần thiết. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy, có 01 tiền án về tội “Trôm cắp tài sản” nhưng không biết cải sửa, thể hiện tính xem thường pháp luật của bị cáo nên áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ nên áp dụng điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với Nguyễn Minh T1 được bị cáo thuê chở đi đến cầu C, trên đường về thì bị cáo bị bắt nhưng T1 không biết đã chở bị cáo đi mua ma túy và bị cáo có cất giấu ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý. Đối với người đàn ông tên H1 đã bán ma túy cho Bùi Hoàng Thanh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B đã tiến hành điều tra nhưng không biết đặc điểm nhận dạng, không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ tiến hành xử lý sau.

[3] Về vật chứng thu giữ:

Khối lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy như đề nghị của Kiểm sát viên.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Hoàng Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Hoàng Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy khối lượng mẫu vật hoàn lại sau giám định là 0,1163gam đã được niêm phong số: 188/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K, Công an thành phố C.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Bình Thủy;
  • - Thi hành án DS Q. Bình Thủy;
  • - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ;
  • - Nhà tạm giữ - CA Q. Bình Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Quí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger