|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 – 8 - 2024
Về việc Hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
- Ông Nguyễn Thái Linh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 90/2023/TLST- HNGĐ ngày 17/5/2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 74/2024/QĐXX-ST ngày 05/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐ-ST ngày 19/7/2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H; SN 1996
Nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Hungary.
Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc P; SN 1992
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh (Hiện đang chấp hành án tại trại giam X, phân trại số A, xã L, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh
(Đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người được ủy quyền giao nhận tài liệu tố tụng: Chị Lê Thị Hồng H1; SN 2003; Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, chị Lê Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc P tự do tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 19/12/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi cưới tình cảm vợ chồng hạnh phúc, yêu thương nhau. Đến khoảng tháng 5 năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn tình cảm dần lạnh nhạt, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã thường xuyên. Sau đó anh P đi chấp hành án tại trại giam X, Hà Tĩnh và đến tháng 1 năm 2024 chị đi lao động tại Hungary. Từ đó đến nay vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Hiện tại chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn không thể hòa giải được và tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Ngọc P.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Diệp A; Sinh ngày 19/10/2020, hiện cháu đang sống cùng bà nội. Chị có nguyện vọng nuôi con còn vấn đề cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình bày giải quyết vụ án anh Nguyễn Ngọc P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 19/12/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Sau đó anh đi chấp hành án tại trại giam X, Hà Tĩnh còn chị H đi lao động tại Hungary. Việc chị H làm đơn xin ly hôn thì anh đồng ý vì vợ chồng không còn tình cảm với nhau.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Diệp A, sinh ngày 19/10/2020. Anh đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ án và đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- - Về tình cảm: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Ngọc P.
- - Về con chung: Giao con chung Nguyễn Diệp A; Sinh ngày 19/10/2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nhưng tạm giao con cho bà nội Chu Thị H2 chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị H2 đang ở nước ngoài. Việc cấp dưỡng nuôi con đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.
- - Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Anh Nguyễn Ngọc P và chị Lê Thị H đều có hộ khẩu thường trú tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện nay chị H đang cư trú tại H. Văn bản chị Lê Thị H gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh có chứng thực của Đ1 tại H. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết vụ án chị H xin vắng mặt và ủy quyền việc giao nhận các văn bản tố tụng; anh Nguyễn Ngọc P cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh P, chị H theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
[2.1] Quan hệ hôn nhân:
Cuộc hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Nguyễn Ngọc P được hình thành cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 19/12/2019 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh là hôn nhân hợp pháp quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 3 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vã thường xuyên. Sau đó anh P phải đi chấp hành án tại trại giam X, Hà Tĩnh còn chị H sang Hungary sinh sống và làm việc từ tháng 1 năm 2024. Từ đó hai vợ chồng không liên lạc với nhau, không quan tâm đến nhau.
Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng cuộc hôn nhân của chị Lê Thị H và anh Nguyễn Ngọc P không đạt được mục đích đó. Anh P và chị H đều thừa nhận không còn tình cảm với nhau. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Ngọc P là phù hợp với quy định tại Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Diệp A; Sinh ngày 19/10/2020, hiện con đang sống cùng bà nội là Chu Thị H2 tại thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Chị H2 có nguyện vọng nuôi con sau khi ly hôn, việc cấp dưỡng nuôi con anh, chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Chu Thị H2 có đơn tự nguyện nuôi cháu trong thời gian chị H2 không ở Việt Nam. Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Ngọc P cũng đồng ý với ý kiến của chị H2. Do đó, cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao con chung cho chị H2 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con. Tạm giao con cháu Nguyễn Diệp A cho bà nội Chu Thị H2 chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị H2 đang ở nước ngoài. Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Hai bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, 37, 147, 227, 228, 273, 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Đ a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H ly hôn anh Nguyễn Ngọc P.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Diệp A; Sinh ngày 19/10/2020 cho chị Lê Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác về quyền nuôi con. Tạm giao con cho bà nội là Chu Thị H2 (Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh) chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị Lê Thị H ở nước ngoài. Anh Nguyễn Ngọc P có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cản.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000878 ngày 16/5/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật).
Nơi nhận:
- - TAND tối cao;
- - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- - Cục THSDS tỉnh Hà Tĩnh;
- - Các đương sự;
- - UBND Thị Trấn Vũ Quang;
- - Lưu HSVA.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hôn nhân gia đình
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H xin ly hôn Nguyễn Ngọc P
