Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01/8/2024

V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung

2. Bà Võ Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Linh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn P, sinh năm 1984 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: 114/ML, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre

- Bị đơn: Chị Võ Thị Hiếu H, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: 413/MT, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2024, trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Lê Văn P trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Võ Thị Hiếu H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M ngày 30/6/2009. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 10 năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên gây gổ, cự cãi nhau. Anh và chị H đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai vợ chồng không hàn gắn được với nhau. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với chị Võ Thị Hiếu H

Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung tên Lê Duy L, sinh ngày 07/01/2009. Con chung hiện đang sống với anh, khi ly hôn anh yêu cầu được quyền nuôi con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Võ Thị Hiếu H đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên chị H vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71; bị đơn chưa chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lê Văn P đối với chị Võ Thị Hiếu H. Về con chung: Giao con chung tên Lê Duy L, sinh ngày 07/01/2009 cho anh P tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận anh P không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Lê Văn P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn chị Võ Thị Hiếu H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ, vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P, chị H.

[2] Về hôn nhân: Anh Lê Văn P và chị Võ Thị H1 H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/6/2009 trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2021, thì xảy ra mâu thuẫn với nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, hôn nhân không hạnh phúc theo lời trình bày của anh P là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ với nhau, anh và chị H đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay không hàn gắn được. Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tiến hành hòa giải giữa anh P và chị H nhưng chị H không tham gia hòa giải, thể hiện chị H không muốn cứu vãn cuộc hôn nhân giữa chị và anh P. Anh P thì vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với chị H. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa anh P và chị H đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, anh P yêu cầu ly hôn với chị H là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh P và chị H có 01 con chung tên Lê Duy L, sinh ngày 07/01/2009. Từ khi anh P, chị H sống ly thân cháu L do anh P nuôi dưỡng chăm sóc tốt. Anh P có yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi cháu L, cháu L cũng có nguyện vọng được sống với anh P nếu cha mẹ ly hôn. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của anh P là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh P không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con, đây là sự tự nguyện của anh P được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.

[6] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Lê Văn P phải nộp án phí hôn nhân và gia đình là 300.000đ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Anh Lê Văn P được ly hôn với Võ Thị Hiếu H. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 30/6/2009 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Duy L, sinh ngày 07/01/2009 cho anh Lê Văn P được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Võ Thị Hiếu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có, không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết

5. Về án phí: Anh Lê Văn P phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0004118 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã M (Ba Tri, Bến Tre);
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

đã ký

Nguyễn Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh P được ly hôn chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger