|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A Tỉnh Hậu Giang |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/DS-ST Ngày: 16-9-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Võ Văn Thành
- 2. Bà Bùi Thị Hồng Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ (Có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Phạm Thị M, sinh năm 1967 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Huỳnh Thành Đ1, sinh năm 1970, địa chỉ: Ấp F, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
1
Huỳnh Quốc Đ2, sinh năm 1975, địa chỉ: Ấp F, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Huỳnh Thị Tuyết M1, sinh năm 1973, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Nguyễn Thị Đ3, sinh năm 1960, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1971, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Nguyễn Văn N, sinh năm 1952, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Nguyễn Văn T1, sinh năm 1958, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Nguyễn Văn B, sinh năm 1963, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Nguyễn Thị H, sinh năm 1956, địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn B, bà Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Văn T, địa chỉ: Ô Nguyễn Văn T (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày như sau: Trước đây, ông được cha, mẹ ruột là ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết) để lại phần đất tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Khi ông B1 và bà N1 còn sống, có cho gia đình bà Trần Thị T2 (là mẹ của bị đơn Huỳnh Văn Đ) ở nhờ trên phần đất này và có nói khi nào gia đình ông cần thì bà T2 trả lại. Nhưng theo ông được biết, bà T2 hiện đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất mà cha, mẹ của ông cho bà T2 ở nhờ. Việc bà T2 tự ý làm giấy tờ ông hoàn toàn không biết. Trước đó, ông có đến chính quyền địa phương để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất này thì chính quyền địa phương cho rằng phần đất trên thuộc của nhà nước (đất công) nên không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Hiện tại, bà T2 đã chết, ông Huỳnh Văn Đ là con bà T2 đang sử dụng phần đất này. Nay, ông yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ trả lại cho ông phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 98,2m² thuộc thửa 1285, loại đất ONT. Việc cha, mẹ của ông cho bà T2 ở nhờ
2
không có lập giấy tờ, cha mẹ ông cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cha mẹ ông có tất cả 09 người con, là Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Ú, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Đ3, Nguyễn Thị N2 và ông là Nguyễn Văn T. Trong đó, bà Nguyễn Thị N2 đã chết, bà N2 có chồng và con nhưng không rõ địa chỉ ở đâu.
Trong vụ án này, anh, chị em của ông đồng ý để cho ông đứng ra khởi kiện ông Huỳnh Văn Đ để đòi lại phần đất mà cha, mẹ của ông đã cho bà T2 ở nhờ. Đối với chồng, con của bà N2 ông không cung cấp được họ tên, địa chỉ, nếu sau này Toà án giải quyết buộc ông Đ trả đất cho ông, mà giữa ông và chồng con bà N2 có tranh chấp thì sẽ yêu cầu giải quyết thành vụ án khác.
Bị đơn là ông Huỳnh Văn Đ trình bày như sau:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T. Phần đất này có nguồn gốc là của cha, mẹ ông là ông Huỳnh Văn Đ4 (đã chết) và bà Trần Thị T2 (đã chết). Vì từ năm 1976, ông Đ4 và bà T2 có hỏi chính quyền địa phương khai phá đất hoang để ở. Sau đó bà T2 xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2012 bà T2 đã được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1285, tờ bản đồ số 05, diện tích 101,3m² tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Vì vậy, việc ông T cho rằng cha, mẹ ông T cho bà T2 ở nhờ trên đất là không đúng, nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ3, Nguyễn Thị Ú trình bày thống nhất như sau:
Bà Đ3 và bà Ú là chị ruột của ông Nguyễn Văn T. Cha, mẹ của bà Ú và bà Đ3 là ông Nguyễn Văn B1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết). Phần đất tranh chấp giữa ông T và ông Đ có nguồn gốc là của ông B1, bà N1. Khi ông B1, bà N1 còn sống có cho mẹ của ông Đ ở nhờ, khi đó ông B1, bà N1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên việc cho bà T2 ở nhờ không có làm giấy tờ. Trong vụ án này, bà Đ3 và bà Ú đồng ý để ông T đứng ra khởi kiện, đồng ý đòi lại đất và đồng ý công nhận quyền sử dụng phần đất trên cho ông Nguyễn Văn T đứng tên chủ sử dụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị Tuyết M1, ông Huỳnh Văn Đ5, Huỳnh Quốc Đ2 trình bày thống nhất như sau:
Các ông, bà là anh, chị, em ruột của ông Huỳnh Văn Đ, phần đất mà ông Nguyễn Văn T khởi kiện ông Đ để đòi lại là của cha, mẹ của ông, bà. Từ lúc ông, bà mới sinh ra đã ở trên phần đất đó. Cha, mẹ của ông, bà là ông Huỳnh Văn Đ4 (đã chết) và
3
bà Trần Thị T2 (đã chết). Bà Trần Thị T2 đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại thửa đất số 1285, tờ bản đồ số 05, diện tích 101,3m², tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nay qua yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ trả lại phần đất trên ông, bà không đồng ý. Ông, bà không yêu cầu chia thừa kế trong vụ án này. Anh, chị, em ông, bà sẽ tự thỏa thuận với nhau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phạm Thị M trình bày như sau:
Bà là vợ của ông Nguyễn Văn T, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông T, thống nhất với lời trình bày của ông T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thị L trình bày như sau:
Bà là vợ của ông Huỳnh Văn Đ, bà thống nhất với lời trình bày của ông Đ, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn Huỳnh Văn Đ trả lại cho ông phần đất diện tích 98,2m² tọa lạc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Ông T cho rằng bà T2 tự ý xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có ai hay và ký giáp ranh. Ngoài phần đất này, ông T cho rằng cha mẹ của ông có kê khai đăng ký quyền sử dụng các phần đất khác gần đó và đã được cấp giấy chứng nhận, phần đất này gia đình ông T có kê khai đăng ký nhưng bị từ chối do chính quyền địa phương xác định đây là đất công do nhà nước quản lý. Vì vậy, việc bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng quy định.
Bị đơn Huỳnh Văn Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu Hội đồng xét xử căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà T2 đã được cấp để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật, đảm bảo đúng về thời hạn cũng như trình tự thủ tục. Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên Phạm Thị M, Nguyễn Thị L, Huỳnh Thị Tuyết M1, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thành Đ1, Huỳnh Quốc Đ2, Nguyễn Thị Ú, Nguyễn Thị Đ3 vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật
4
Tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vắng mặt những người này là phù hợp.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 26, Điều 37, Điều 236 của Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn T đối với bị đơn Huỳnh Văn Đ về việc đòi lại quyền sử dụng đất.
Về án phí và chi phí đo đạc, thẩm định giá các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Nguyễn Văn T cho rằng mẹ của ông có cho mẹ của nguyên đơn ở nhờ trên đất, nay mẹ ông và mẹ ông Đ đã chết nên ông yêu cầu ông Đ trả lại đất nhưng ông Đ không đồng ý từ đó phát sinh tranh chấp. Xét đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, phần đất tranh chấp toạ lạc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị Đ3, Nguyễn Thị Ú, Huỳnh Thành Đ1, Huỳnh Quốc Đ2 vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người này.
Đối với bà Nguyễn Thị N2 là chị ruột của ông Nguyễn Văn T đã chết, có chồng và có con nhưng ông Nguyễn Văn T không cung cấp được họ tên và địa chỉ cư trú của những người này nên không đưa vào tham gia tố tụng nếu sau này giữa ông T và chồng, con của bà N2 có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn T yêu cầu ông Huỳnh Văn Đ trả lại cho ông phần đất diện tích 98,2m².
Ông Nguyễn Văn T cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha, mẹ của ông là ông Nguyễn Văn B1 và bà Nguyễn Thị N1 cho bà Trần
5
Thị T2 là mẹ bị đơn Huỳnh Văn Đ ở nhờ, thoả thuận khi nào ông B1, bà N1 cần thì bà T2 sẽ trả lại đất.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn T không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh đất này là của ông B1, bà N1. Ông T xác định ông B1, bà N1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc ông B1, bà N1 cho bà T2 ở nhờ cũng không có giấy tờ, tài liệu gì chứng minh. Đồng thời, ông T đã trình bày tại phiên toà, bà T2 và gia đình bà T2 đã sinh sống trên phần đất này từ năm 1976 đến nay, tức là đã trên 40 năm.
Trong khi đó, bà Trần Thị T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2012 cho đến trước thời điểm ông T khởi kiện năm 2023 không có ai khiếu nại, việc bà T2 được cấp giấy trên cơ sở bà T2 xin được giao đất từ năm 2010, được ấp, xã xác nhận là ở ổn định từ năm 1976, Phòng T3 huyện xác minh, làm rõ và báo cáo UBND huyện giao đất cho bà T2 nên tháng 01/2012 bà T2 được giao phần đất này và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T2 có thực hiện đo đạc, có các bên ký giáp ranh, cụ thể là UBND xã T và bà Nguyễn Thị Đ6 ký giáp ranh.
Hiện tại, con bà T2 là ông Huỳnh Văn Đ đã ở trên đất từ trước đến nay. Đồng thời, UBND huyện C cũng đã có Công văn số 1030/UBND ngày 16/9/2024 xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị T2 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.
Hội đồng xét xử xét thấy, ông T khởi kiện ông Đ yêu cầu đòi đất cho ở nhờ nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông. Gia đình bà T2 đã ở trên đất từ năm 1976 đến năm 2012 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sinh sống tại phần đất này cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí đo đạc, thẩm định giá, phí trích lục hồ sơ:
[4.1] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên căn cứ Điều 26 và 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì ông Nguyễn Văn T phải án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng. Chuyển số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đồng mà ông T đã nộp thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6
[4.2] Về chi phí đo đạc, thẩm định giá tài sản, phí trích lục hồ sơ:
Tổng cộng là 3.000.000đồng (ba triệu đồng), do yêu cầu khởi của ông T không được chấp nhận nên ông T phải chịu số tiền này. Số tiền này ông T đã nộp tạm ứng xong.
[5] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A có căn cứ, đúng quy định nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, 157, 165, Điều 227, 228 Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng các Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 26, Điều 37 của Luật đất đai năm 2024; Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn là Huỳnh Văn Đ về việc đòi lại quyền sử dụng phần đất diện tích 98,2m² thuộc thửa 1285, loại đất ONT, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00919 do UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp cho bà Trần Thị T2 vào ngày 09/3/2012.
- Về án phí dân sự sơ thẩm
- Về chi phí đo đạc, thẩm định giá tài sản, phí trích lục hồ sơ: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 3.000.000đồng (ba triệu đồng), ông Nguyễn Văn T đã nộp xong.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T, bị đơn ông Huỳnh Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Huỳnh Thị Tuyết M1, Phạm Thị M, Nguyễn
(Kèm theo sơ đồ thửa đất số 62-2024 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Chi nhánh văn phòng Đ7, tỉnh hậu Giang)
Ông Nguyễn Văn T chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông T đã nộp là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004408 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
7
- Thị L, Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần nội dung bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Chúc Linh |
8
Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, Tỉnh Hậu Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 96/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, Tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
