Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY NAM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày: 19/7/2024

V/v: “Tranh chấp HĐCNQSD đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Nhân

- Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Trần Thị Sẩm;

2.Bà Mai Thị Nhặc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 169/2023/TLST-DS, ngày 03 tháng 7 năm 2023, về việc: “Tranh chấp HĐCNQSD đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2024/QĐST-DS ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 314/2024/QĐST-DS, ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970;

Địa chỉ cư trú: ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre, có mặt.

Bị đơn: Bà Trần Thị R, sinh năm 1952;

Địa chỉ cư trú: ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1964;

    Nơi cư trú tại: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, uỷ quyền cho nguyên đơn Nguyễn Văn H.

  2. Chị Phạm Ngọc D1, sinh năm 1975;

    Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Chị Phạm Ngọc T, sinh năm 1989;

  4. Anh Phạm Thanh H1, sinh năm 1982;

    Đều ở địa chỉ: ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.

BÀ R, chị D1, chị T, anh H1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Văn H trình bày:

Ngày 25 tháng 4 âm lịch năm 2000, ông Nguyễn Văn H và anh ruột của ông H là ông Nguyễn Văn Dân L văn bản nhận chuyển nhượng của ông Phạm Văn B(đã chết) và bà Trần Thị R thửa đất số 1935, tờ bản đồ số 1, diện tích 1.123,75m² tại ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre với giá 19,5 chỉ vàng 24K9999/1.000m². Ông H và ông D đã trả đủ vàng cho bà R và ông B. Ông B và bà R cũng đã giao đất cho ông H và ông D quản lý, sử dụng từ năm 2000 cho đến nay.

Sau khi nhận đất, ông H và ông D thoả thuận ông D nhận 782,75m², ông H nhận 341m² còn lại, ông H đã trồng Dừa trên đất và D2 đã có trái, ông đang thu hoạch. Diện tích 341m² đất này theo đo đạc chính quy là thửa 430, tờ bản đồ số 13, ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Vào thời điểm ông H nhận chuyển nhượng đất thì bà R và ông B thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn Ngân hàng nên không làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật được.

Đến năm 2020, sau khi bà R xoá thế chấp ở Ngân hàng, ông H nhiều lần yêu cầu bà R thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu trên cho ông H nhưng bà R chỉ thực hiện việc chuyển nhượng cho ông D mà không thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho ông H.

Nay ông H yêu cầu bà R cùng các con của bà R và ông B là chị Phạm Ngọc T, Phạm Ngọc D1 và anh Phạm Thanh H1 tiếp tục thực hiện hợp đồng, lập thủ tục chuyển nhượng cho ông H1 thửa đất số 430, tờ bản đồ số 13, diện tích 341m² tại ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre. Ông H1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí về việc thu thập chứng cứ.

Bị đơn Trần Thị R và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc T, Phạm Ngọc D1 và anh Phạm Thanh H1 đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án, đã nhận được bản photo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn Nguyễn Văn H cung cấp cho Toà án; đồng thời bị đơn Trần Thị R và chị Phạm Ngọc T có tham gia việc Toà án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nhưng bà R, chị T, chị D1 và anh Phạm Thanh H1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phát biểu kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thấy rằng Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng và đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 500, 501, 502 và 503 của Bộ luật dân sự năm 2015, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn H và nội dung tranh chấp cần phải giải quyết, Tòa án xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, vụ việc được quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Đối tượng của hợp đồng là các thửa đất tọa lạc tại xã C, huyện M nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35 và các điểm a, c Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

[2] Về nội dung giải quyết:

Xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 25/4/2020 giữa ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị R, Phạm Văn B tuy có vi phạm điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự quy định tại Điều 119 của Bộ luật dân sự nhưng không vi phạm các điều 500, 501 và 502 của Bộ luật dân sự năm 2015, Khoản 3 Điều 188 của Luật đất đai năm 2013 và Nghị quyết số: 02/2004/NQ-HĐTP, ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; đồng thời các bên đã giao nhận đủ tiền, bên chuyển nhượng đã giao đất cho bên nhận chuyển nhượng quản lý, sử dụng trồng cây lâu năm trên đất từ khi nhận tiền xong cho đến nay nên có hiệu lực theo quy định tại Điều 503 của Bộ luật dân sự. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí:

Bà Trần Thị R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn H tự nguyện chịu chi phí về việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đoạc, định giá tài sản và chi phí giám định theo quy định tại các điều 157, 161 và 165 của Bộ luật tố tụng dân sự và ông H đã nộp xong.

[5] Xét thấy quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 147, 157, 161, 165, 235 và 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 500, 501, 502 và 503 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; các điều 24 và 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn H.

Tuyên xử:

  1. Buộc bà Trần Thị R, chị Phạm Ngọc D1, chị Phạm Ngọc T và anh Phạm Thanh H1 thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng thửa đất số 430, tờ bản đồ số 13, diện tích 341m², toạ lạc tại ấp B, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre cho ông Nguyễn Văn H đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  2. Trường hợp bên có nghĩa vụ( bà Trần Thị R, chị Phạm Ngọc D1, chị Phạm Ngọc T và anh Phạm Thanh H1) không hợp tác, ông Nguyễn Văn H được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký, kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung Bản án đã tuyên.

  3. Về án phí:

    Bà Trần Thị R phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch là 300.000(Ba trăm nghìn),

    Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn H 300.000(ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0006742, ngày 29/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam.

  4. Về chi phí tố tụng:

    Ông Nguyễn Văn H tự nguyện chịu chi phí về việc xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và ông H đã nộp xong.

  5. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

- Mai Thị Nhặc – Trần Thị Sẩm

Lê Chí Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hđcnqsd đất

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp HĐCNQSD đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger