TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/DS-PT Ngày: 11-9- 2024 “V/v tranh chấp về phường họ và hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân | |
| Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Từ | Bà Trần Thị Thuý Ngọc |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 40/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp về phường họ và hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 190/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mỹ V, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đình S, sinh năm 1965; Địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm của nguyên đơn trình bày: Bà Phạm Thị Thanh N tiền phường và tiền mặt của chị V như sau:
+ Phường 540.000.000 đồng: Có 18 suất tương đương 12 người chơi phường gồm: Dương Thị H 01 suất, Nguyễn Thị T1 01 suất, Lê Thị N1 01 suất, Phan Thị L 01 suất, Nguyễn Thị A (giò) 01 suất, Nguyễn Thị A (T5) 01 suất, Phạm Thị T 01 suất, Nguyễn Thị Tố U 01 suất, Nguyễn Thị T2 01 suất, Đinh Thị Mỹ V 04 suất, Đinh Thị Mỹ V1 01 suất; Đinh Thị Mỹ H1 02 suất, Phạm Thị H2 01 suất, Lữ Thị Thanh H3 01 suất. Thứ tự lĩnh phường như sau: Bà Dương Thị H lĩnh hộ cho bà Phan Thị A1 (giò) kì 1, Lữ Thị Thanh H3 - K, Đinh Thị Mỹ V - K, Nguyễn Thị T1 - K, Lê Thị N1 - Kỳ 5, Đinh Thị Mỹ H1 - K, Phan Thị L - K, Đinh Thị Mỹ H1 - K, Nguyễn Thị A (T5) –K, Phạm Thị T - K, Đinh Thị Mỹ V kỳ 11, Nguyễn Thị Tố U kỳ 12, Nguyễn Thị Tuyết kỳ 13, Đinh Thị Mỹ V1 kỳ 14, tính đến ngày 20/11/2022 âm lịch, còn 04 kỳ còn lại thì thương lượng chia đều nhau không tiếp tục mua phường nữa. Phương thức chơi phường 540.000.000 đồng như sau: Phường quy định ngày 20 hàng tháng từ ngày 20/10/2021 âm lịch thì những chơi phường đến tại nhà riêng của chị V để mua phường (đối với những người chưa mua phường), nếu ai mua được phường thì những người chưa mua được sẽ được hưởng số tiền lãi suất tương ứng với số tiền mà người nhận kỳ đó bỏ ra, còn đối với chủ phường (chị V) sẽ được hưởng nguyên tiền lãi từ đầu đến cuối, quy định kỳ thứ 3 thì chủ sẽ nhận phường và những người chơi phường sẽ đóng mỗi suất phường 30.000.000 đồng. Hình thức đóng tiền: Chị V thu tiền mặt và chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng, đối với những người ở chợ gồm bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị T (S), bà Phan Thị A1 (giò), bà Dương Thị H là đóng tiền theo ngày mỗi ngày 1.000.000 đồng, còn lại là nộp theo tháng hoặc chuyển khoản.
Phường 540.000.000 đồng ông S, bà T nhận ở kỳ 10, chị V trả đầy đủ tiền mặt cho ông S, bà T tổng số tiền là 540.000.000 đồng và lập thành một hợp đồng vay tiền vào ngày 20/7/2022 (âm lịch), tất cả hợp đồng nhận phường 540.000.000₫ mà người được nhận phường ký đều đề ngày 24/11/2021 (âm lịch). Bà T đưa lại cho chị V số tiền 40.000.000 đồng/10 suất tiền lãi, gồm: Bà T, bà Phạm Thị H2, bà Dương Thị H, chị Đinh Thị Mỹ H1, Đinh Thị Mỹ V (04 suất), chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị Tố U. Mỗi người được hưởng số tiền lãi là 4.000.000 đồng. Chị V đã tìm hiểu pháp luật thì số tiền lãi mà bà T lĩnh phường vượt quá quy định của pháp luật là 20%/năm, chị V đồng ý trừ phần lãi vượt quá vào số tiền nợ gốc và không yêu cầu những người đã nhận số tiền lãi trên hoàn trả lại cho chị V.
Phường 540.000.000đ đã hết vào ngày 20/3/2023 âm lịch (do tháng 02 có hai tháng nhuần). Bà T, ông S đã đóng được cho chị V: 10 kỳ đầu tiên x 30 triệu = 300 triệu; ông S trả 59 ngày x 1.000.000 đồng = 59.000.000 đồng; ông S bán vàng trả được 20.000.000 đồng; Sáu T3 trả hộ cho bà T 20.000.000 đồng; bà Xà H4 trả hộ bà T số tiền 25.000.000 đồng; ra năm bà trả lắt nhắt 10.000.000 đồng, bà T nhận phường của Nguyễn Thị Q trả 15.000.000 đồng, số tiền phường mà ông S, bà T còn nợ chị V là 91.000.000 đồng, từ tháng 01/2023 âm lịch đến tháng 5/2023 dương lịch bà T trả được cho chị V thêm tổng số tiền là 9.640.000 đồng, số tiền phường bà T còn nợ chị V là 81.360.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm: Chị V rút yêu cầu khởi kiện số tiền phường là 360.000 đồng và phần tiền lãi đối với khoản nợ phường 540.000.000 đồng, yêu cầu bà T, ông S trả số tiền phường còn thiếu là 81.000.000 đồng.
+ Phường 480.000.000 đồng: Phường gồm có 16 suất tương đương với 11 người chơi, chơi theo phường tháng mỗi tháng 30.000.000 đồng bao gồm: Phạm Thị T (S) 02 suất, Dương Thị H 02 suất (bà H đứng ra chơi cho bà Nguyễn Thị X, bà X không trực tiếp tham gia chơi phường), Đinh Thị Mỹ V 03 suất, bà Phạm Thị T4 (H) 01 suất, Đinh Thị Mỹ V1 03 suất, bà Đậu Thị X1 01 suất, Phạm Thị T5 01 suất, chị Nguyễn Thị Tố U 01 suất, bà Nguyễn Thị T1 (H5) 01 suất, Đinh Thị Mỹ H1 01 suất. Những người đã lĩnh phường: Phạm Thị T – Kỳ 1, Dương Thị H đứng ra lĩnh cho bà Nguyễn Thị X (Huế) - Kỳ 2, Đinh Thị Mỹ V (phường chủ) - Kỳ 3, bà Phạm Thị T4 (H) - K, Đinh Thị Mỹ V1 - Kỳ 5, Đinh Thị Mỹ V - K, bà Đậu Thị X1 - Kỳ 7, bà Phạm Thị T5 - Kỳ 8, chị Đinh Thị Mỹ V - Kỳ 9, chị Đinh Thị Mỹ V1 - kỳ 10, bà Dương Thị H - Kỳ 11, chị Đinh Thị Mỹ H1 - Kỳ 12, còn 04 kỳ chia đều cho những người chơi còn lại. Cách chơi phường tương tự như phường 540.000.000 đồng, chủ phường đến kỳ thứ 3 sẽ nhận phường của mỗi suất là 30.000.000 đồng. Phương thức chơi phường 480.000.000 đồng như sau: Phường quy định ngày 25 hàng tháng từ ngày 25/02/2022 âm lịch thì những người chơi phường đến tại nhà riêng của chị V để mua phường (đối với những người chưa mua được phường (Chưa lĩnh), nếu ai đã mua được phường (đã lĩnh) thì những người chưa mua phường (chưa lĩnh) sẽ được hưởng số tiền lãi tương ứng với số tiền mà người nhận ở kỳ đó bỏ ra, còn đối với chủ phường (chị V) sẽ được hưởng nguyên tiền lãi từ kỳ đầu đến kỳ cuối đối với 01 suất phường, quy định kỳ thứ 3 thì chủ sẽ nhận phường và những người đã mua được phường (Đã lĩnh) sẽ đóng nguyên mỗi suất phường là 30.000.000 đồng. Phường 480.000.000 đồng bà T, ông S lĩnh ở kỳ đầu tiên, ông S và bà T nộp được cả hai suất đến kỳ thứ 8, nên cân đối lại là hòa nhau, phường 480.000.000 đồng giữa chị V và bà T, ông S không có mâu thuẫn gì, không còn ai nợ ai.
+ Hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022 âm lịch: Chị V với bà T có mối quan hệ thân thiết với nhau nên thường xuyên cho bà vay tiền. Ngày 25/02/2022 âm lịch bà T gọi điện cho chị V để vay tiền lo công việc. Chị V đồng ý cho bà T vay tiền nhưng chị V yêu cầu cả ông S sang thì chị V mới giao tiền cho bà T.Chị V cho ông S và bà T vay số tiền 450.000.000đồng không thỏa thuận lãi suất, không cầm cố tài sản nhưng nếu không trả đúng hạn thì thỏa thuận theo lãi suất của ngân hàng. Thời hạn vay là 15 tháng, từ ngày 25/02/2022 âm lịch đến ngày 25/4/2023 âm lịch thì vợ chồng ông S, bà T phải trả đủ cho chị V số tiền 450.000.000 đồng. Chị V giao tiền mặt cho ông S, bà T tại nhà riêng ở khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi giao tiền mặt thì chị V yêu cầu ông S và bà T viết vào hợp đồng vay tiền, phần viết tay trong hợp đồng vay tiền là chữ viết của ông S, bà T và ông S cùng ký điểm chỉ vào Hợp đồng vay tiền, số tiền trên là tiền của cá nhân chị V không liên quan đến chồng chị V. Đây cũng là hợp đồng vay tiền mặt không liên quan đến phường 480.000.000 đồng. Chị V cho ông S, bà T vay tiền không có ai chứng kiến. Đến ngày 25/4/2023 âm lịch bà T, ông S không trả cho chị V số tiền gốc 450.000.000 đồng. Nay chị V yêu cầu ông S, bà T trả số tiền gốc 450.000.000 đồng và số tiền lãi từ ngày 26/4/2023 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm.
Ngoài ra ngày 24/12/2022, bà T viết giấy chốt nợ với chị V số tiền 541.000.000 đồng. Số tiền này bao gồm tiền nợ phường 540.000.000 đồng là 91.000.000 đồng và tiền nợ khoản vay 450.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn Phạm Thị T trình bày:
Bà T và ông S không vay nợ với chị V khoản tiền mặt nào những hợp đồng vay nợ mà bà T, ông S ký với chị V là những khoản tiền phường.
+ Phường 540.000.000 đồng: Có 18 suất tương đương 12 người chơi phường gồm: Dương Thị H 02 suất, bà Nguyễn Thị T1 01 suất, chị Lê Thị N1 01 suất, chị Phan Thị L 01 suất, chị Nguyễn Thị A 01 suất, bà Phạm Thị T 01 suất, chị Nguyễn Thị T2 01 suất, chị Đinh Thị Mỹ V 04 suất, chị Đinh Thị Mỹ V1 01 suất, chị Đinh Thị Mỹ H1 02 suất, bà Phạm Thị H2 01 suất, Lữ Thị Thanh H3 01 suất, chị Nguyễn Thị Tố U 01 suất. Những người đã lĩnh: Bà Dương Thị H - Kỳ 1, chị Lữ Thị Thanh H3 - Kỳ 2, chị Đinh Thị Mỹ V (chủ phường) - K, bà Nguyễn Thị T1 - Kỳ 4, chị Lê Thị N1 - Kỳ 5, Đinh Thị Mỹ H1 - K, Phan Thị L - Kỳ 7, chị Đinh Thị Mỹ H1 kỳ 8, chị Nguyễn Thị An K 9, Phạm Thị Thanh kỳ 10, Đinh Thị Mỹ V kỳ 11, chị Nguyễn Thị Tố U kỳ 12, Nguyễn Thị Tuyết kỳ 13, Đinh Thị Mỹ V1 kỳ 14 tính đến ngày 20/11/2022 âm lịch. Vào ngày đầu tiền của kỳ chơi phường thì chị V gọi tất cả những người chơi phường vào và thỏa thuận quy định như sau: Phường quy định ngày 20 hàng tháng từ ngày 20/10/2021 âm lịch thì những người chơi phường đến tại nhà riêng của chị V để mua phường (đối với những người chưa mua phường), nếu ai mua được phường thì những người chưa mua được được số tiền lãi tương ứng với số tiền mà người nhận kỳ đó bỏ ra, còn đối với chủ phường (chị V) sẽ được hưởng nguyên tiền lãi từ đầu đến cuối đối với 01 suất phường, quy định kỳ thứ 3 thì chủ sẽ nhận phường và những người chơi phường sẽ đóng mỗi suất phường 30.000.000 đồng, chị V cũng nêu rõ những ai không đóng tiền phường thì chị V cho ra khỏi phường và phải đóng tiền phường hàng tháng đầy đủ thì chị V mới cho lĩnh phường. Phường 540 triệu bà T nhận ở kỳ 10 và bà cũng đã đóng được 10 kỳ, với số tiền 10 kỳ đóng phường thì chủ yếu anh Q1 chồng chị V ra thu tiền phường, hàng ngày anh Q1 ra thu tiền phường với chồng bà là ông Lê Đình S ở ngoài chợ H8, thị trấn T, huyện T mỗi ngày 1.000.000 đồng, tổng số tiền mà bà đã đóng tiền phường ở 10 kỳ là 300.000.000 đồng, còn đến kỳ thứ 10 bà T nhận tiền phường chị V trả đủ 540.000.000 đồng, bà T mua phường 4.000.000đồng/1 suất phường, tiền lãi chia cho 10 suất gồm: Bà T 01 suất, chủ phường 01 suất và 08 suất chưa lĩnh, tổng là 4.000.000 đồng x10 suất = 40.000.000 đồng, số tiền này bà T đưa cho chị V. Bà T lĩnh phường ở kỳ thứ 10, thì còn 08 kỳ còn lại mỗi tháng bà sẽ đóng đủ 30.000.000 đồng. Từ ngày nhận tiền phường vợ chồng bà đã đóng được 20.000.000 đồng do bà bán vàng trả, 25.000.000 đồng chuyển từ bà Nguyễn Thị X (Huế) (bà X đưa cho chị V), 10.000.000 đồng chị V lấy ở nhà bà T, và còn lại bà đóng được 59 ngày x 1.000.000 đồng = 59.000.000 đồng, ngày 10/01/2023 âm lịch nộp đến ngày 20/4/2023 âm lịch trả ngày 1.000.000 đồng, có hai tháng thiếu nên đã trừ đi 20 ngày thì còn lại 100 ngày x 1.000.000 đồng = 100.000.000 đồng, bà trả cho chị V tại quán G số tiền 30.000.000 đồng khoảng vào ngày 25, 26, 27 tết năm 2022 bà không nhớ rõ. Tổng số tiền mà bà đã đóng 244.000.000 đồng.
+ Phường 480.000.000 đồng: Ban đầu phường này chỉ có 15 suất tham gia phường, mỗi suất phường 30.000.000 đồng/suất/tháng, tổng cộng là 450.000.000 đồng. Sau khi lĩnh phường ở kỳ thứ nhất thì mấy ngày sau chị V thông báo với bà T có bà Đậu Thị X1 tham gia phường và nâng số suất phường lên là 16 suất, tương đương với số tiền là 480.000.000 đồng, từ đó phường có tên là phường 480.000.000 đồng. Bà T biết bao gồm những người chơi là: Phạm Thị T 02 suất (01 suất đứng ra chơi cho vợ chồng ông Lê Văn T6, bà Phan Thị A1), bà Dương Thị H 01 suất, chị Đinh Thị Mỹ V đã lĩnh 03 suất, dì Phạm Thị T4 (H) 01 suất, Đinh Thị Mỹ V1 đã lĩnh 01 suất, bà Đậu Thị X1 01 suất, bà Phạm Thị T5 01 suất, bà Nguyễn Thị T1 01 suất, còn lại 04 suất thì tôi không biết là những ai chơi phường. Những người đã lĩnh phường: bà Phạm Thị T - Kỳ 1, bà Dương Thị H - Kỳ 2, chị Đinh Thị Mỹ V (phường chủ) - Kỳ 3, bà Phạm Thị T4 - Kỳ 4, chị Đinh Thị Mỹ V1 - Kỳ 5, chị Đinh Thị Mỹ V - kỳ 6, bà Đậu Thị X1 - K, bà Phạm Thị T5 - Kỳ 8, chị Đinh Thị Mỹ V - Kỳ 9, còn lại thì bà không biết. Cách chơi phường tương tự như phường 540.000.000 đồng, chủ phường đến kỳ thứ 3 sẽ nhận phường của mỗi suất là 30.000.000 đồng. Phương thức chơi phường 480.000.000 đồng như sau: Phường quy định ngày 25 hàng tháng từ ngày 25/02/2022 âm lịch thì những người chơi phường đến tại nhà riêng của chị V để mua phường (đối với những người chưa lĩnh phường, nếu ai đã được lĩnh phường rồi thì những người chưa lĩnh phường được hưởng số tiền lãi tương ứng với số tiền mà người lĩnh ở kỳ đó bỏ ra để được lĩnh phường, còn đối với chủ phường là chị V sẽ được hưởng nguyên tiền lãi từ kỳ đầu đến kỳ cuối đối với 01 suất phường, quy định kỳ thứ 3 thì chủ sẽ nhận phường và những người tham gia phường sẽ đóng mỗi suất phường là 30.000.000 đồng). Chị V cũng nêu rõ những ai không đóng tiền phường thì chị V cho ra khỏi phường và phải đóng tiền phường hàng tháng đầy đủ thì chị V mới cho lĩnh phường.
Phường 480.000.000đ bà T đăng ký 02 suất nhưng có 01 suất vợ chồng ông Lê Văn T6, bà Phan Thị A1 nhờ đứng ra chơi giúp, suất thứ nhất bà T lĩnh ở kỳ đầu tiên đã nhận đầy đủ số tiền 450.000.000 đồng và đưa lại cho chị V số tiền mua phường, tiền đóng 02 suất phường 450.000.000 đồng, toàn bộ số tiền nhận phường đã giao cho ông Lê Văn T6, bà Phan Thị A1, sau này khi bà Đậu Thị X1 tham gia thì chị V đưa thêm cho bà T số tiền 21.750.000 đồng. Bà T và ông S đóng được 08 kỳ cả hai suất, đến kỳ thứ 8 vợ chồng bà không đủ khả năng đi phường nên bà T đã trao đổi với chị V tại nhà chị V, 08 kỳ phường đóng được ở suất 2 thì sẽ bù vào 08 kỳ phường suất mà đã lĩnh ở kỳ đầu tiên nên còn nợ 08 kỳ phường (đã đóng 08 kỳ đầu), tổng số tiền đã đóng là 240.000.000 đồng ở 08 kỳ suất 2 và nợ 240.000.000 đồng ở 08 kỳ suất 1 nên là hòa nhau, không ai nợ ai.
+ Về hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022, thực chất là hợp đồng chị V và vợ chồng bà T, ông S ký để ràng buộc việc trả nợ của vợ chồng bà đối với phường 450.000.000 đồng (sau đổi thành phường 480.000.000đ). Cụ thể, sau khi bà T nhận phường 450.000.000 đồng, bà T nhận đủ tiền phường và trả cho chị V số tiền 02 suất phường là 60.000.000 đồng và tiền lãi mà bà T phải đưa những người chưa được lĩnh phường ở kỳ thứ nhất, bà T còn nhận về bao nhiêu tiền bà không nhớ, nhưng bà khẳng định số tiền phường bà đã được nhận đầy đủ từ chị V. Sau này bà Đậu Thị X1 vào thì mới chuyển thành phường 480.000.000 đồng, số tiền bà Đậu Thị X1 đóng tiền phường thì chị V cũng đã đưa cho bà với số tiền là 21.750.000 đồng. Toàn bộ số tiền phường nhận ở kỳ thứ nhất bà T đã chuyển toàn bộ cho vợ chồng ông Lê Văn T6 và bà Phan Thị A1.
Nay chị V yêu cầu trả số tiền nợ phường 540.000.000 đồng còn nợ chị V 81.000.000 đồng bà T không đồng ý trả, vì bà T đã trả đủ. Ngoài ra bà cũng không đồng ý trả cho chị V số tiền gốc 450.000.000 đồng, tiền lãi, vì đây là khoản tiền phường 480.000.000 đồng, bà đã trả đủ không nợ chị V và chị V cũng thừa nhận điều đó.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S trình bày:
Ông S nhất trí với lời trình bày của bà Phạm Thị T, ông không đồng ý trả số tiền phường 540.000.000 đồng còn nợ chị V 81.000.000 đồng, vì bà T, ông S đã trả đủ. Ngoài ra ông cũng không đồng ý trả cho chị V số tiền gốc 450.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn, vì đây là khoản tiền phường 480.000.000 đồng, vợ chồng đã trả đủ không nợ chị V.
Lời khai của chị Nguyễn Thị Tố U: Chị U tham gia chơi phường với chị V (chủ phường), bà Phạm Thị T là người chơi phường bao gồm phường 540.000.000 đồng và phường 480.000.000 đồng. Phường 480.000.000 đồng khi mua ban đầu là 15 suất, tương đương với 450.000.000 đồng, ban đầu chị V gọi vào mua phường ở kỳ đầu tiên thì phường 480.000.000 đồng chưa có tên gọi, kỳ thứ 2 thì chị U mới thấy bà Đậu Thị X1 vào mua phường, chị V tổng hợp lại mới có tên gọi là phường 480.000.000 đồng, với tổng là 16 suất, tên gọi phường 480.000.000 đồng có tên gọi ở kỳ thứ 2. Kỳ đầu tiên bà Thanh S1 mua với số tiền 8.250.000 đồng/1người chị U là người viết giấy mua phường cho bà T vì bà không biết viết số, kỳ đó chị U đóng cho chị V số tiền là 21.750.000 đồng. Chị U không được chứng kiến chị V giao tiền cho ông S1 và bà T, nghe chị V nói là giao tiền phường cho ông S1, bà T còn giao ngày nào, cụ thể bao nhiêu tiền thì chị U không biết.
Lời khai của bà Phan Thị A1: Bà A1, ông T6 không trực tiếp chơi phường 480.000.000 đồng mà nhờ bà Phạm Thị Thanh C hộ. Phường 480.000.000 đồng đầu tiên phường 450.000.000 đồng là có 15 suất nhưng sau đó thêm bà Đậu Thị X1 là 16 suất, nâng tổng số tiền phường lên là 480.000.000 đồng với thành phường 480.000.000 đồng. Bà A1, ông T6 nhờ bà T lĩnh phường ở kỳ đầu tiên, bà T đưa số tiền bao nhiêu bà A1 không nhớ, còn hàng tháng bà A1, ông T6 vẫn đóng đầy đủ tiền phường cho bà T, ông S1. Gần sát Tết năm 2022 thì bà T đưa cho chị V khoảng 30.000.000 đồng. Vì chị V cũng thường xuyên ra đó để lấy tiền phường, còn khoản tiền 30.000.000 đồng bà T đưa cho chị V thì bà A1 không biết là bà T đưa cho chị V khoản tiền nợ gì.
Lời khai của ông Lê Văn T6: Ông T6, bà A1 không trực tiếp chơi phường 480.000.000 đồng mà nhờ bà Phạm Thị Thanh C hộ 01 suất. Phường 480.000.000 đồng đầu tiên phường 450.000.000 đồng là có 15 suất nhưng sau đó thêm bà Đậu Thị X1 là 16 suất, nâng tổng số tiền phường lên là 480.000.000 đồng với thành phường 480.000.000 đồng.Vợ chồng ông nhờ bà T lĩnh phường ở kỳ đầu tiên, còn hàng tháng vợ chồng ông vẫn đóng đầy đủ tiền phường cho bà T, ông S1. Gần sát tết năm 2022 thì bà T đưa cho chị V khoảng 30.000.000 đồng. Chị V cũng thường xuyên đến nhà ông để lấy tiền phường, còn khoản tiền 30.000.000 đồng bà T đưa cho chị V thì ông không biết là bà T đưa cho chị V khoản tiền nợ gì.
Lời khai bà Phạm Thị T5 (em gái bà Phạm Thị T): Bà T5 tham gia chơi phường 480.000.000 đồng với chị V (chủ phường), bà Phạm Thị T (Người chơi phường). Phường 480.000.000 đồng đầu tiền có 15 suất tương đương với số tiền 450.000.000 đồng, sau khi mua phường ở kỳ đầu tiên được mấy ngày thì có người vào thêm nâng thành 16 suất, với số tiền 480.000.000 đồng. Suất đầu tiên của phường 480.000.000 đồng bà không biết ai mua, bà T là người đưa tiền lãi cho bà, suất phường thứ 16 bà cũng không biết ai là người tham gia. Khi đóng tiền phường thì bà không cho chị V ký giấy tờ, còn khi bà nhận tiền phường thì chị V ký vào hợp đồng vay tiền, chị V là người giữ hợp đồng vay tiền, khi kết thúc phường chị V cũng không trả lại hợp đồng vay tiền cho bà.
Lời khai bà Dương Thị H: Bà H tham gia chơi phường 480.000.000 đồng với chị V (chủ phường). Phường 480.000.000 đồng có 16 suất, ai vào trước, ai vào sau bà không biết. Suất đầu tiên của phường 480.000.000 đồng bà không biết ai mua, chị V là người đưa tiền lãi cho bà. Bà H nhận tiền phường ở kỳ gần cuối nên không lập thành hợp đồng vay tiền, thời điểm chị V chơi phường chị V luôn có sẵn tiền trong nhà, nên khi mua được phường thì chị V trả tiền luôn.
Lời khai anh Đỗ Đức Q1: Anh Q1 là chồng của chị Đinh Thị Mỹ V, anh Q1 không biết chị V tham gia chơi phường, anh cũng không biết chị V cho ai vay tiền, đến sau khi chị V thông báo bể nợ thì anh Q1 mới biết chị V chơi phường. Chị V có nhờ anh đi lấy tiền với bà T, ông S1 trung bình mỗi ngày một triệu, có lần là vài ba ngày bà T, ông S1 mới đưa, tổng số tiền chị V nhờ đi lấy là 59.000.000 đồng.
Lời khai chị Phạm Thị H6 (cháu bà Phạm Thị T): Chị H6 không tham gia chơi phường với chị V, nhưng mẹ chị H6 bà Phạm Thị T5 chơi phường với chị V. Phường 480.000.000đ chị H6 không biết có bao nhiêu suất, chỉ biết mỗi tháng đóng phường là 30.000.000đ, chị H6 là người giúp bà T5 vào mua phường hàng tháng, sau đó chị H6 cầm tiền lời về cho bà T5, còn bà T5 đóng theo ngày mỗi ngày một triệu. Kỳ đầu tiên ai mua được phường chị H6 không biết. Chị H6 chỉ biết vào nhận tiền lời với chị V cầm về cho bà Phạm Thị T5, chị H6 không quan tâm ai bốc được phường. Kỳ đầu là đóng số tiền gốc tháng đó trừ đi số tiền lời, bắt đầu kỳ thứ 2 thì bà T5 mới đóng theo ngày. Chị H6 không được chứng kiến chị V giao tiền cho ông S1 và bà T. Nhưng khi nhận tiền phường chị V sẽ cho ký hợp đồng vay tiền và sẽ có 01 đến 02 người làm chứng ký vào hợp đồng vay tiền.
Lời khai của chị Lê Thị N1 (con gái ông Lê Đình S, bà Phạm Thị T: Chị N1 tham gia phường với chị Đinh Thị Mỹ V (chủ phường) gồm phường 540 triệu và phường 225 triệu. Bà Phạm Thị T, ông Lê Đình S lĩnh phường 540.000.000đ ở kỳ thứ mấy chị N1 không nhớ chỉ biết ông S, bà T lĩnh phường sau chị N1. Chị Ngọc L1 phường ở kỳ thứ 5, khi nhận tiền phường chị N1 ký vào hợp đồng vay tiền, lăn tay điểm chỉ, số tiền trong hợp đồng vay tương đương với số tiền phường là 540.000.000đ. Cuối tờ giấy vay thì chị V trừ cho chị N1 số tiền 150.000.000đ chị N1 đã đóng được 5 kỳ. Số tiền mà chị N1 phải đóng trong 13 kỳ tiếp theo là mỗi kỳ 30.000.000đ. Chị N1 không nhớ ngày, thời gian cụ thể, chỉ nhớ sau khi bà T, ông S lĩnh phường 540.000.000đ thì chị N1 có chứng kiến 07 lần ông S, bà T nói chuyện với chị về việc trả nợ tiền phường 540.000.000đ cho chị V. Chị N1 cũng chứng kiến anh Q1 chồng chị V ra chợ thu tiền phường 540.000.000đ với ông S, bà T mỗi ngày một triệu tiền phường. Hiện nay phường 540.000.000đ bà T, ông S đã trả hết cho chị V, còn thừa số tiền 4.000.000đ, ông S, bà T gọi điện cho chị V nói chị V trả lại nhưng chị V không trả nên mới phát sinh mâu thuẫn. Chị N1 không tham gia chơi phường 480.000.000đ, nhưng chị V có gọi điện cho chị N1 rủ chị chơi phường 450.000.000đ, gồm có 15 người chơi, nhưng chị N1 không đồng ý, sau đó phường 450.000.000₫ có thêm bà Đậu Thị X1 tham gia chơi phường thì nâng lên số tiền 480.000.000đ.
Tại bản tự khai chị Lữ Thị Thanh H3 trình bày: Chị H3 tham gia phường 540.000.000đ với chị Đinh Thị Mỹ V gồm 18 suất, mỗi tháng 30.000.000đ, nộp tiền phường bằng hình thức nộp tiền mặt hoặc chuyển khoản. Chị H3 không nhớ rõ bà T lĩnh phường ở kỳ thứ mấy, chị H3 khẳng định khi được lĩnh tiền phường thì chị V cho ký hợp đồng vay tiền thì mới được nhận tiền phường. Chị H3 cũng không được chứng kiến bà T đóng tiền phường cho chị V, chị H3 cũng không biết phường 480.000.000₫ bà T có tham gia hay không, vì chị H3 không tham gia phường 480.000.000₫
Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm bà Đậu Thị X1, bà Nguyễn Thị T1, bà Phạm Thị T5 không đồng ý cho Tòa án lấy lời khai. Chị Nguyễn Thị Q không có mặt tại địa phương nên không tiến hành lấy lời khai được.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466,468 Bộ luật dân sự; Điều 21, Điều 22 Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 19/02/2019 về Họ, H7, B, Phường; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ V.
- Buộc bà Phạm Thị T, ông Lê Đình S liên đới trả cho chị Đinh Thị Mỹ V số tiền 564.875.000 đồng (Năm trăm sáu mươi tư triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Trong đó: Tiền phường: 77.000.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu đồng); T7 vay: Tiền gốc 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), tiền lãi 37.875.000 đồng (Ba mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Phạm Thị T, ông Lê Đình S có nghĩa vụ trả số tiền 360.000 đồng (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) và khoản tiền lãi của khoản tiền phường.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/4/ 2024, bị đơn bà Phạm Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Phạm Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Phạm Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S kháng cáo trong thời hạn luật định, Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng pháp luật. Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị T, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1.1] Theo tài liệu có trong hồ sơ thể hiện từ năm 2021 đến năm 2022 bà Phạm Thị T có vay và tham gia phường với chị Đinh Thị Mỹ V. Khi vay và nhận tiền phường có viết giấy vay tiền, cụ thể:
- Hợp đồng vay tiền ngày 24/11/2021 âm lịch: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, chị Đinh Thị Mỹ V thừa nhận hợp đồng vay tiền ngày 24/11/2021 giữa chị V và bà Phạm Thị T, ông Lê Đình S xuất phát từ việc bà T tham gia phường với chị V số tiền 540.000.000 đồng bao gồm 18 suất chơi, bà T lĩnh phường ở kỳ thứ 10 nên để đảm bảo việc trả tiền của bà T, chị V và bà T thỏa thuận bằng hợp đồng vay tiền, phù hợp với lời khai của bà T. Xét thấy việc chị V và bà T chốt phường với nhau bằng giấy vay tiền là do hai bên thỏa thuận và tự nguyện nên cần xác định đây là hợp đồng vay tài sản (vay tiền). Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm, chị V yêu cầu bà T trả số tiền nợ phường còn thiếu là 81.000.000 đồng. Bà T, ông S cho rằng đã trả hết số tiền phường 81.000.0000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Bà T, ông S không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh Bà T, ông S đã trả hết số tiền phường 540.000.000 đồng. Việc chị V yêu cầu Bà T, ông S trả số tiền phường còn thiếu là 81.000.000 đồng là có căn cứ.
- Hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022 âm lịch: Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm chị Đinh Thị Mỹ V khai: Ngày 25/02/2022 âm lịch bà T gọi điện cho chị V để vay tiền lo công việc. Chị V đồng ý cho bà T vay tiền nhưng chị V yêu cầu cả ông S sang thì chị V mới giao tiền cho bà T. Chị V cho ông S và bà T vay số tiền 450.000.000 đồng không thỏa thuận lãi suất, không cầm cố tài sản nhưng nếu không trả đúng hạn thì thỏa thuận theo lãi suất của ngân hàng. Thời hạn vay là 15 tháng, từ ngày 25/02/2022 âm lịch đến ngày 25/4/2023 âm lịch thì vợ chồng ông S, bà T phải trả đủ cho chị V số tiền 450.000.000 đồng. Chị V giao tiền mặt cho ông S, bà T tại nhà riêng ở khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi giao tiền mặt thì chị V yêu cầu ông S và bà T viết vào hợp đồng vay tiền, phần viết tay trong hợp đồng vay tiền là chữ viết của ông S, bà T và ông S cùng ký điểm chỉ vào Hợp đồng vay tiền, số tiền trên là tiền của cá nhân chị V không liên quan đến chồng chị V. Đây cũng là hợp đồng vay tiền mặt không liên quan đến phường 480.000.000 đồng. Chị V cho ông S, bà T vay tiền không có ai chứng kiến. Đến ngày 25/4/2023 âm lịch bà T, ông S không trả cho chị V số tiền gốc 450.000.000 đồng. Nay chị V yêu cầu ông S, bà T trả số tiền gốc 450.000.000 đồng và số tiền lãi từ ngày 26/4/2023 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm. Bà Phạm Thị T và ông Lê Đình S cho rằng hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022 âm lịch: Chị V và vợ chồng bà T, ông S ký để ràng buộc việc trả nợ của vợ chồng ông bà đối với phường 450.000.000 đồng (sau đổi thành phường 480.000.000đ) và vợ chồng ông bà đã trả tiền đủ tiền phường không còn nợ chị V.
[1.2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022, âm lịch chị V, bà T, ông S thỏa thuận xác lập, tự nguyện ký trong tình trạng minh mẫn, không bị ép buộc. Chị V cho ông S, bà T vay số tiền là 450.000.000 đồng, mục đích vay trong hợp đồng là để kinh doanh hàng thịt lợn, thời gian cho vay là 15 tháng từ ngày 25/02/2022 âm lịch đến 25/4/2023 âm lịch, lãi suất quá hạn không quá 150%. Hợp đồng trên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có nội dung phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội là có căn cứ, đảm bảo quy định.
Trong hồ sơ vụ án, có các hợp đồng vay tiền mặt (tiền phường), mục đích là chị V chủ phường cho các người tham gia phường nhận tiền phường và hợp đồng vay tiền phường 540 triệu ngày 24/11/2021 âm lịch giữa chị V và bà T, ông S. Các hợp đồng tiền phường này, ở mục phương thức và thời hạn trả nợ đều quy định cụ thể bên B (người nhận phường) phải trả lãi cho bên A (chị V) vào một ngày cụ thể hàng tháng, hợp đồng vay tiền phường 540 triệu ngày 24/11/2021 âm lịch giữa chị V và bà T, ông S ghi phương thức thanh toán ngày 20 âm lịch hàng tháng phải trả 30 triệu đồng, các hợp đồng vay tiền phường này khác với Hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022 âm lịch không quy định cụ thể ngày trả nợ hàng tháng.
Giấy chốt nợ ngày 24/12/2022 âm lịch: Lời khai bà T tại bút lục số 72 thể hiện: "Trong giấy ngày 23/11/2022 thì phía dòng trên là chữ viết của chị V, còn dòng dưới ghi ngày 24/12 nội dung cụ thể là chữ viết của tôi không liên quan đến tiền phường, nội dung không cụ thể, bản thân tôi không nhận đây là giấy chốt nợ số tiền 541.000.000 đồng. Tiền này là tiền vay tiền mặt với chị V, đã trả xong xuôi, còn tiền phường 540.000.000 đ thì ông S đã đóng đầy đủ". Bà T không thừa nhận đây là giấy chốt nợ số tiền 541 triệu đồng nhưng lại thừa nhận tiền này là tiền vay tiền mặt với chị V, đã trả nợ xong xuôi nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã trả. Giấy chốt nợ ngày 24/12/2022, âm lịch phù hợp với số tiền phường bà T nợ chị V và số tiền trong hợp đồng vay tiền ngày 25/02/2022 âm lịch. Bà T cho rằng chị V cho bà uống bia nên bà T không tỉnh táo khi viết giấy chốt nợ ngày 24/12/2022 âm lịch, tuy nhiên bà T không chứng minh được bà viết giấy chốt nợ trong trạng thái không minh mẫn. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T, ông S, cần áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là phù hợp.
[2] Về án phí: Bà Phạm Thị T và ông Lê Đình S kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình S, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Phạm Thị T và ông Lê Đình S mỗi người phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007375 ngày 26/4/2024 và số 0007374 ngày 26/4/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 96/2024/DS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về phường họ và hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 96/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về phường họ và hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v tranh chấp về phường họ và hợp đồng vay tài sản
