|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/DS-PT
Ngày 16 tháng 4 năm 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng nguyên
tắc về chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tấn Tài.
- Các thẩm phán: Ông Lâm Thuận Tùng; ông Lê Thanh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng nguyên tắc về chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án sơ thẩm số 205/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị Công ty cổ phần Đ kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 91/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Nguyễn Trung T, sinh năm 1963; địa chỉ: số F, đường L, tổ C, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T:
- Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1971; địa chỉ 506, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1975; địa chỉ: C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 21/12/2022) được Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Lan P tại tỉnh Đồng Nai chứng nhận.
- - Bị đơn: Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ); địa chỉ: tầng B tòa nhà T, đường N, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ):
- Bà Vũ Thị Thu H1, sinh năm 1976;
- Ông Phạm Xuân D, sinh năm 1987;
- Ông Trần Việt D1, sinh năm 1993;
- Cùng địa chỉ: Tầng B tòa nhà T, E N, Đ, Thành phố Hà Nội. (Theo Giấy ủy quyền số 114 ngày 15/5/2023 của Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ1; địa chỉ: số B đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Tại phiên tòa có mặt các ông Trần Việt D1 và Phạm Xuân D. Các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ cấp sơ thẩm thể hiện:
Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên hòa giải, nguyên đơn Nguyễn Trung T và người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Ông Nguyễn Trung T cho rằng ngày 14/6/2021 ông và Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ) có ký hợp đồng nguyên tắt số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM, theo đó ông đồng ý mua và ký kết hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất thuộc dự án khu đô thị M, tọa lạc tại thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; cụ thể lô đất ký hiệu lô LK -7:08 (C), lô số 08, diện tích 100m² thuộc Dự án khu đô thị M, hình thức sử dụng riêng; giá chuyển nhượng thỏa thuận 1.172.874.800 đồng (một tỷ một trăm bảy mươi hai triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn tám trăm đồng), thời hạn thanh toán thỏa thuận 10 lần, bắt đầu từ ngày ký hợp đồng đến ngày 04/01/2022. Vào các ngày 04/3/2021, 23/4/2021, 14/6/2021 ông đã thanh toán cho Công ty với tổng số tiên 348.343.830 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi đồng); Sau khi thực hiện các kỳ theo hợp đồng nguyên tắc, các bên sẽ tiến đến việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng lô đất nêu trên khi các thủ tục pháp lý đã hoàn tất. Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2021 do dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, thực hiện cách ly và hạn chế mọi hoạt động theo Chỉ thị 16 nên ông không thể thanh toán các đợt tiền tiếp theo cho Công ty như thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc. Khi dịch bùng phát phía Công ty cổ phần Đ Namvà ông không liên lạc qua lại bằng điện thoại và cũng không thông báo bằng văn bản về gia hạn thời hạn thanh toán. Sau khi Công ty cổ phần Đ thông báo số CM1 – LK-7: 08 vào ngày 04/11/2021 về việc đơn phương chấm dứt hủy bỏ hợp đồng, toàn bộ số tiền mà ông đã đóng cho Công ty thuộc quyền sở hữu của Công ty; ông T có nhận thông báo này, nhưng khi nhận đã là tháng 02/2022, trước đó Công ty chỉ gọi thông báo qua điện thoại. Khi biết được sự việc ông đến Công ty K và yêu cầu được tiếp tục hợp đồng vào các ngày 13/12/2021, 17/12/2021, 12/4/2022 nhưng chỉ gặp được nhân viên cứ hẹn chờ Lãnh đạo Công ty giải quyết nhưng không có bất cứ phản hồi nào cho ông. Dựa vào dịch bệnh là điều kiện bất khả kháng nhưng Công ty cổ phần Đ đã đơn phương chấm dứt hợp đồng đã xâm phạm quyền lợi của ông.
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ) tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất thuộc dự án khu đô thị M, cụ thể lô đất ký hiệu lô LK -7:08 (C), lô số 08, diện tích 100m².
Quá trình giải quyết vụ án:
- Đại diện hợp pháp cho Công ty cổ phần Đ do ông Phạm Xuân D và ông Trần Việt D1 trình bày: xác định tổng số tiền theo hợp đồng nguyên tắc CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM mà Công ty cổ phần Đ đã nhận từ ông T 04 đợt với số tiền 318.343.830 đồng (kể cả khoản đặt giữ chỗ số tiền 30.000.000 đồng) chứ không phải số tiền 348.343.830 đồng theo trình bày của ông T; việc ông T không trả các kỳ tiếp theo với lý do nêu ra diễn biến dịch bệnh phức tạp thì đây là tình hình, diễn biến chung, nếu đảm bảo khả năng tài chính ngay từ đầu theo cam kết thì ông T vẫn chuyển tiền theo từng kỳ qua hệ thống Ngân hàng với nội dung thỏa thuận đã ký kết; việc ông T có liên hệ gặp nhân viên TNR – CN C trao đổi để đóng các kỳ tiếp theo và yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thời điểm này do ông T đã vi phạm cam kết theo nội dung thỏa thuận tại khoản 1 Điều 5 Hợp đồng nguyên tắc đã ký kết nên Công ty đơn phương hủy bỏ hợp đồng; hiện lô đất nêu trên, Công ty cổ phần Đ đã chuyển nhượng cho người khác (Công ty không có thông tin). Vì vậy, Công ty cổ phần Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T. Đối với Công ty Cổ phần Đ1 chỉ là đối tác của Công ty cổ phần Đ chứ không phải chi nhánh phụ thuộc Công ty Đ; Công ty cổ phần Đ N nhận từ ông T theo hợp đồng nguyên tắc số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM 04 đợt 318.343.830 đồng (chỉ xác định công ty nhận tiền cọc giữ chỗ 30.000.000 đồng lô đất LK -7:08 (C), lô số 08, diện tích 100m²) còn lại 30.000.000 đồng như ông T trình bày thì phía Công ty cổ phần Đ không có thông tin.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Đ1 có văn bản trình bày ý kiến: Công ty Cổ phần Đ1 chỉ là đối tác môi giới bất động sản của Công ty cổ phần Đ chứ không phải chi nhánh phụ thuộc Công ty Đ. Thông qua việc môi giới thì Công ty Đ1 đã môi giới thành công lô nền C5-15. Công ty cổ phần Đ xác nhận đã nhận từ ông T 04 đợt 318.343.830 đồng và Công ty Đ1 cũng không còn liên quan đến lô nền C5-15 nữa; đối với số tiền đặt giữ chỗ 30.000.000 đồng lô nền C5-14 không liên quan trong vụ kiện này, không đề cập và xin xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn do ông Nguyễn Văn P1: Có đơn xin vắng mặt, có đơn thay đổi ý kiến, yêu cầu khởi kiện; từ việc yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng nguyên tắc vô hiệu, buộc Công ty cổ phần Đ trả lại cho ông Nguyễn Trung T số tiền 318.343.830 đồng sang đề nghị hủy hoặc chấm dứt hợp đồng nguyên tắt số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM, buộc Công ty cổ phần Đ trả lại cho ông Nguyễn Trung T số tiền 318.343.830 đồng.
Bị đơn, đại diện hợp pháp cho Công ty cổ phần Đ do ông Phạm Xuân D, ông Trần Việt D1 trình bày: Do phía ông Nguyễn Trung T vi phạm cam kết đóng tiền theo từng kỳ của hợp đồng nguyên tắc số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM đã vi phạm điều khoản hợp đồng nguyên tắc nên Công ty cổ phần Đ được quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng với ông T, số tiền mà ông T đã đóng sẽ thuộc về Công ty; ông T nêu lý do dịch bệnh nhưng nếu đảm bảo khả năng tài chính theo thỏa thuận thì ông T vẫn đóng tiền theo từng ký đúng thời hạn như cam kết, Công ty cổ phần Đ cũng có ra các thông báo về việc trễ hạn thanh toán cho ông T biết; phía Công ty cổ phần Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, thời điểm hiện tại lô đất trên cũng không còn để Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng với ông T, Công ty không nắm thông tin về bên mua lô đất này. Đối với các phiếu ghi nhận ý kiến khách hàng do nhân viên Công ty Đ ghi nhận khi ông T liên hệ là thời điểm sau khi khi ông T đã vi phạm hợp đồng, ông T đến liên hệ sau khi Công ty đã chấm dứt hợp đồng, Công ty có thông báo việc vi phạm và thông báo chấm dứt hợp đồng cho ông T.
*Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T;
Tuyên bố chấm dứt hợp đồng nguyên tắt số CM1_LK 7:08/2021/HĐNT/TNR ngày 14/6/2021 giữa Công ty Cổ phần Đ với ông Nguyễn Trung T.
Buộc Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Trung T số tiền 222.840.000 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T đối với số tiền 95.503.830 đồng (chín mươi lăm triệu năm trăm lẻ ba nghìn tám trăm ba mươi đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T đối với số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo; quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 09/10/2023, bị đơn Công ty Cổ phần Đ kháng cáo đề nghị Công ty cổ phần Đ yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T về việc buộc Công ty cổ phần Đ trả số tiền 222.840.000 (Hai trăm hai mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn) đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn vắng mặt, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- + Về thủ tục tố tụng tại cấp phúc thẩm: những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, thành phần HĐXX, thư ký phiên tòa và thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về nội dung giải quyết vụ án: Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo nộp các tài liệu, chứng cứ là Đơn xin yêu cầu ngày 16/11/2021 của ông T; các giấy đề nghị thanh toán của Công ty có xác nhận của Bưu điện Hà Nội. Tuy nhiên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xem xét toàn diện vụ án và giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt HĐXX), căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS năm 2015, phúc xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn là Công ty cổ phần Đ, giữ nguyên Sơ thẩm số 205/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Công ty cổ phần Đ kháng cáo là trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Công ty cổ phần Đ yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T về việc buộc Công ty cổ phần Đ trả số tiền 222.840.000 (Hai trăm hai mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn) đồng.
[3] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Trung T đã được triệu tập hợp lệ lần 2, nhưng vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[4] Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, HĐXX xét thấy:
Vào ngày 14/6/2021 ông T và Công ty Cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ) có ký hợp đồng nguyên tắt số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM, theo đó ông đồng ý mua và ký kết hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất thuộc dự án khu đô thị M, tọa lạc tại thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; cụ thể lô đất ký hiệu lô LK -7:08 (C), lô số 08, diện tích 100m² thuộc Dự án khu đô thị M, hình thức sử dụng riêng; giá chuyển nhượng thỏa thuận 1.172.874.800 đồng (một tỷ một trăm bảy mươi hai triệu tám trăm bảy mươi bốn nghìn tám trăm đồng), thời hạn thanh toán thỏa thuận 10 lần, bắt đầu từ ngày ký hợp đồng đến ngày 04/01/2022. Vào các ngày 04/3/2021, 23/4/2021, 14/6/2021 ông đã thanh toán cho Công ty với tổng số tiền 348.343.830 đồng (ba trăm bốn mươi tám triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi đồng); Sau khi thực hiện các kỳ theo hợp đồng nguyên tắc, các bên sẽ tiến đến việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng lô đất nêu trên khi các thủ tục pháp lý đã hoàn tất. Tuy nhiên, từ ngày 01/7/2021 do dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, thực hiện cách ly và hạn chế mọi hoạt động theo Chỉ thị 16 nên ông không thể thanh toán các đợt tiền tiếp theo cho Công ty như thỏa thuận trong hợp đồng nguyên tắc. Về phía Công ty cổ phần Đ thì cho rằng ông Nguyễn Trung T vi phạm cam kết đóng tiền theo từng kỳ của hợp đồng nguyên tắc số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR-CM đã vi phạm điều khoản hợp đồng nguyên tắc nên Công ty cổ phần Đ được quyền đơn phương hủy bỏ hợp đồng với ông T, số tiền mà ông T đã đóng sẽ thuộc về Công ty; ông T nêu lý do dịch bệnh nhưng nếu đảm bảo khả năng tài chính theo thỏa thuận thì ông T vẫn đóng tiền theo từng ký đúng thời hạn như cam kết, Công ty cổ phần Đ cũng có ra các thông báo về việc trễ hạn thanh toán cho ông T biết; phía Công ty cổ phần Đ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, thời điểm hiện tại lô đất trên cũng không còn để Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng với ông T, Công ty không nắm thông tin về bên mua lô đất này. Đối với các phiếu ghi nhận ý kiến khách hàng do nhân viên Công ty cổ phần Đ ghi nhận khi ông T liên hệ là thời điểm sau khi khi ông T đã vi phạm hợp đồng, ông T đến liên hệ sau khi Công ty đã chấm dứt hợp đồng, Công ty có thông báo việc vi phạm và thông báo chấm dứt hợp đồng cho ông T.
Thấy rằng, từ thời điểm cuối tháng 6/2021 dịch bệnh bùng phát và diễn biến rất phức tạp, hạn chế về việc đi lại, sản xuất, kinh doanh của người dân trong cả nước, mà đặc biệt ở địa bàn TP . tình hình dịch bệnh rất nghiêm trọng, dẫn đến nhiều người tử vong, mọi người đều phải tuân thủ nghiêm ngặt Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ, cả nước đều lo phòng chống dịch bệnh. Do đó, việc ông T không thể thực hiện được mọi giao dịch thanh toán tiền theo hợp đồng cho phía Công ty cổ phần Đ được xem là nguyên nhân bất khả kháng theo quy định pháp luật dân sự. Lẽ ra, trong trường hợp này, phía Công ty phải đảm bảo duy trì hợp đồng nói trên với ông T, khi dịch bệnh không còn các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng, nhưng Công ty lại đơn phương chấm dứt hợp đồng với ông T là không đúng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, người đại diện hợp pháp cho Công ty cổ phần Đ xác định hiện nay lô đất C5-15 không còn nên việc ông T yêu cầu chấm dứt hoặc hủy bỏ hợp đồng nguyên tắc và yêu cầu Công ty cổ phần Đ hoàn trả số tiền 318.343.830 đồng, cấp sơ thẩm căn cứ vào nguyên nhân sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật dân sự để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T là hoàn toàn có cơ sở.
Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại đánh giá về yếu tố lỗi của các bên, cho rằng tại thời điểm phát sinh dịch bệnh Covid; mặc dù, tình hình diễn biến phức tạp nhưng ông T phải tìm hiểu kỹ cách thức để nộp từng kỳ theo thỏa thuận, cách thức thanh toán, cách thức chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng qua số tài khoản của Công ty cổ phần Đ; trường hợp, cần gia hạn thời hạn thanh toán, ông T phải có nghĩa vụ liên hệ với Công ty cổ phần Đ để gia hạn việc thanh toán, nếu Công ty từ chối thì cũng phản hồi cụ thể nhưng ông T lại liên hệ qua trung gian là Công ty Cổ phần Đ1, không có sự chủ động trong việc thanh toán nên cần xem xét yếu tố lỗi của ông T trong việc dẫn đến hủy bỏ hợp đồng nguyên tắc với mức độ 30%, để từ đó, chỉ chấp nhận ông T đã nộp 318.343.830 đồng nên cần buộc Công ty cổ phần Đ giao trả ông T 70% tương ứng, 222.840.000 đồng là chưa đúng với quy định của pháp luật. Bởi lẽ, diện tích lô đất mà Công ty cổ phần Đ ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông T, sau khi Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng với ông T, Công ty đã tự ý sang nhượng cho người khác, lô đất hiện nay không còn, như vậy phía Công ty không có thiệt hại gì xảy ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật dân sự thì người có lỗi gây thiệt hại thì mới phải có nghĩa vụ bồi thường, trong trường hợp ông T đã nộp cho Công ty cổ phần Đ số tiền 318.343.830 đồng, nếu tuyên bố chấm dứt hợp đồng cấp sơ thẩm phải tuyên buộc Công ty cổ phần Đ hoàn trả lại toàn bộ số tiền mà ông T đã nộp là 318.343.830 đồng. Nhưng do phía ông T không có đơn kháng cáo, nên căn cứ vào phạm vi xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét về vấn đề này đối với ông T, nhưng cần đưa ra để cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, phía Công ty cổ phần Đ có cung cấp thêm các chứng cứ như: Đơn xin yêu cầu ngày 16/11/2021 của ông T; các giấy đề nghị thanh toán của Công ty có xác nhận của Bưu điện Hà Nội. Nhưng như đã phân tích ở phần trên, việc ông T chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là sự kiện bất khả kháng, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần Đ.
[5] Về rút một phần khởi kiện: theo phiếu thu đặt chỗ ngày 04/3/2021 của Công ty Cổ phần Đ1 thể hiện số tiền 30.000.000 đồng là đặt để giữ chỗ đối với Lô nền C5-14, không liên quan đến phần yêu cầu khởi kiện trong vụ án này; ông T rút lại yêu cầu đối với số tiền này; việc rút yêu cầu của ông T là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên cấp sơ thẩm đình chỉ theo các Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự là phù hợp.
Đối với quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần Đ. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của Công ty cổ phần Đ không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần Đ. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 205/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang như sau:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T:
Tuyên bố chấm dứt hợp đồng nguyên tắc số CM1_LK-7:08/2021/HĐNT/TNR ngày 14/6/2021 giữa Công ty Cổ phần Đ với ông Nguyễn Trung T.
Buộc Công ty Cổ phần Đ có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Trung T số tiền 222.840.000 đồng (hai trăm hai mươi hai triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T đối với số tiền 95.503.830 đồng (chín mươi lăm triệu năm trăm lẻ ba nghìn tám trăm ba mươi đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung T đối với số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Về án phí:
- * Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn ông Nguyễn Trung T không phải chịu án phí sơ thẩm, được hoàn lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013428 ngày 31/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu 11.140.000 đồng (mười một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- * Án phí dân sự phúc thẩm:
- - Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng phúc thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0014080 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tấn Tài |
Bản án số 96/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng nguyên tắc về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 96/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng nguyên tắc về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng nguyên tăc về chuyển nhượng QSDĐ
