Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Cương, bà Cao Thị Chuyên.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2023/HS-ST ngày 08-11-2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-HS ngày 17-11-2023, đối với bị cáo:

Phan Thanh T

- Tên gọi khác: Không; sinh ngày 25-6-1974 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phan T1, sinh năm 1933 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1939; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 và có 02 con, con lớn sinh 2000, con nhỏ sinh 2010; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09-10-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y - Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Vũ Mộng Đ, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái - Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 09-10-2023, T đi bộ đến khu vực sau chợ G thuộc tổ dân phố H, phường H,TP Y, tỉnh Yên Bái, mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon mầu trắng có khóa kẹp viền mầu xanh bên trong có chứa 03 gói ma túy với giá 600.000 đồng, mục đích để sử dụng. Khi mua được ma túy T mang về đến khu vực đường L thuộc tổ E, phường N, TP Y, tỉnh Yên Bái thì bị Công an thành phố Y bắt quả tang. Thu giữ trên người T: 01 túi nilon mầu trắng có khóa kẹp viền mầu xanh bên trong có 03 gói giấy bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi là ma túy); 01 điện thoại di động và 01 căn cước công dân.

Tại bản Kết luận giám định số: 561/KL-KTHS ngày 14-10-2023 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Phan Thanh T có tổng khối lượng là 0,15 gam là ma túy, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 92/CT-VKS-TP ngày 07-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Phan Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thanh T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Thanh T khai báo thành khẩn, không tranh luận gì và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh T khai nhận hành vi tàng trữ 0,15 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy, nhưng do sống buông thả nên đi vào con đường sử dụng chất ma túy. Do đó, cần phải có mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo và đảm bảo phòng chống tội phạm.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố, mẹ bị cáo là người có công được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng chất ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Bị cáo Phan Thanh T khai nhận nguồn gốc ma túy là mua của một người đàn ông nhưng T không biết đầy đủ tên, tuổi và địa chỉ của người đó. Do vậy không có cơ sở để điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án.

[8] Về vật chứng: Đối với 0,15 gam ma túy loại Heroine thu giữ khi bắt quả tang Phan Thanh T, Cơ quan giám định đã trích 0,08 gam làm mẫu giám định còn lại 0,07 gam được niêm phong bằng một phong bì do Phòng K - Công an tỉnh Y phát hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 vỏ túi nilon và 03 giấy gói cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động và 01 căn cước công dân tạm giữ của bị cáo. Đây là tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan nên trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09-10-2023.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Tịch thu tiêu hủy: 0,07 gam ma túy loại Heroine được niêm phong bằng một phong bì do Phòng K - Công an tỉnh Y phát hành; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ túi nilon và 03 giấy gói.
    • Trả lại cho bị cáo Phan Thanh T 01 điện thoại di động và 01 căn cước công dân.

    (Chi tiết đặc điểm vật chứng, đồ vật, tài sản theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái ngày 08-11-2023).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Bị cáo Phan Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 bị cáo Phan Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Công an TP Yên Bái;
  • - Hồ sơ nghiệp vụ CATP;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Bị cáo,
  • - Lưu hồ sơ vụ án, TA, THA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thế Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 96/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 09-10-2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger