Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST

Ngày 22-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Bảo Ngọc.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Văn Be

  • Bà Nguyễn Thị Kim Linh

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vương Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Thế Ân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Thị H, sinh năm 1980; nơi sinh: Tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; chồng Nguyễn Thuần Q (đã ly hôn); con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • + Năm 2008, bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính 6.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển trái phép hành hoá, hàng cấm qua biên giới”, đã nộp phạt xong, đủ thời hạn được coi chưa bị xử phạt.

  • + Năm 2009, bị Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt vi phạm hành chính 800.000 đồng về hành vi “Kinh doanh hàng hoá nhập lậu”, đã nộp phạt xong, đủ thời hạn được coi chưa bị xử phạt. Năm 2010, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính 40.000.000 đồng về hành vi “Nhập khẩu phế liệu nhưng không đủ điều kiện", đã nộp phạt xong, đủ thời hạn được coi chưa bị xử phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ theo Quyết định truy nã từ ngày 28-3-2023, đến ngày 31-3-2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Minh T, sinh năm 2002; nơi sinh: Đồng Nai; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; con ông Nguyễn Minh C và bà Lưu Thị Kim H1; vợ, con: Chưa có.

    Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T4 – Bộ C1; có mặt.

  2. Hồ Văn T1, sinh năm 1989; nơi sinh: Tây Ninh; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; con ông Hồ Văn H2 (đã chết) và bà Thân Thị H3; vợ: Lê Phương T2.

    Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T5 – Bộ C1; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 07-8-2021, Lê Thị H kêu Nguyễn Minh T điều khiển xe mô tô biển số 70L7-4798 và Hồ Văn T1 điều khiển xe mô tô biển số 70L6-2134 đi đến vườn cao su thuộc ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh chờ nhận thuốc lá điếu nhập lậu để vận chuyển cho H. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày thì có hai người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ) đi bằng xuồng máy trên sông V đến bờ sông cặp vườn cao su thuộc ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh và chất 08 bao nylon màu vàng bên trong có chứa thuốc lá điếu nhập lậu lên bờ, xong 02 người này điều khiển xuồng máy rời đi. Nguyễn Minh T cùng Hồ Văn T1 đến lấy chất 08 bao ny lon màu vàng, bên trong có chứa 4.740 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 2.390 bao thuốc lá hiệu Jet, 2.350 bao thuốc lá hiệu Hero lên xe mô tô biển số 70L7-4798 và xe mô tô biển số 70L6-2134 để chuyển đi thì bị Công an huyện C phối hợp cùng Công an xã H bắt quả tang Nguyễn Minh T và thu giữ các vật chứng nêu trên, riêng Hồ Văn T1 đã chạy thoát. Đến ngày 15/8/2021, Hồ Văn T1 đến Công an xã H, huyện C đầu thú và khai nhận cùng với Nguyễn Minh T vận chuyển 4.740 bao thuốc lá điếu nhập lậu.

Nguyễn Minh THồ Văn T1 khai nhận số thuốc lá điếu nhập lậu nêu trên là của Lê Thị H, H thuê T và T1 vận chuyển từ bờ sông cặp vườn cao su thuộc ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh đến ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để H bán cho người khác, xe mô tô biển số 70L7-4798 và xe mô tô biển số 70L6-2134 là của Lê Thị H giao cho T và T1 dùng làm phương tiện để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Trước ngày bị bị bắt quả tang, Nguyễn Minh T đã vận chuyển thuốc lá điều nhập lậu cho Lê Thị H khoảng 7-8 lần, không xác định được số lượng, mỗi lần vận chuyển T được H trả tiền công 350.000 đồng; Hồ Văn T1 đã vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho H khoảng 3-4 lần, không xác định được số lượng, T1 được H trả tiền công 02 lần tổng cộng 3.000.000 đồng. Ngày bị bắt quả tang, do đang trong quá trình vận chuyển thì bị bắt nên chưa nhận được tiền công.

Sau khi Nguyễn Minh THồ Văn T1 bị bắt, Lê Thị H bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra lệnh truy nã, đến ngày 28-3-2023 bắt được Lê Thị H tại Đồn Biên phòng Cửa khẩu P.

Quá trình điều tra, Lê Thị H không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng không có buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu, không có thuê Nguyễn Minh THồ Văn T1 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc và cho đối chất, TT1 khai được Lê Thị H thuê vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập, được H đưa xe mô tô để làm phương tiện vận chuyển, được H trả tiền công; Lê Thị H khai không có buôn bán và thuê T và T1 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Nguyễn Minh THồ Văn T1, còn có nhân chứng trình bày là T và T1 vận chuyển thuê thuốc lá điếu nhập lậu cho Lê Thị H.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Các vật chứng thu giữ được xử lý theo Bản án sơ thẩm số 47/2022/HS-ST ngày 23-6-2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Qua xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành kê biên tài sản của Lê Thị H gồm: 01 thửa đất số 36, tờ bản đồ số 39, diện tích 851,2 m² toạ lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; 01 thửa đất số 66, tờ bản đồ số 21, diện tích 13.544,5 m² toạ lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; 01 thửa đất số 58, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.413,2 m² toạ lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; 01 thửa đất số 59, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.388 m² toạ lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

Tại bản Cáo trạng số: 76/CT-VKSCT ngày 12-9-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Thị H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; Điều 38; khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 08 năm đến 10 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không phạm tội, không thuê T, T1 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, số thuốc lá điếu nhập lậu bị bắt quả tang không phải của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Vào khoảng 15 giờ ngày 07-8-2021, Lê Thị H thuê Nguyễn Minh T, Hồ Minh T3 đến vườn cao su thuộc ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh để nhận thuốc lá điếu nhập lậu từ người đàn ông lạ mặt và vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu đến khu vực ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để bán cho người khác. Nguyễn Minh THồ Văn T1 đang chất lên xe 08 bao nylon màu vàng bên trong có chứa 4.740 bao thuốc lá điếu nhập lậu thì bị phát hiện bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra vụ án, Lê Thị H đã bỏ trốn, đến ngày 28-3-2023 thì bị bắt theo quyết định truy nã, H không thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng ngày 07-8-2021 bị cáo đi cùng tài xế Trần Phương H4 đến khu vực tỉnh Đồng Nai mua vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, lời khai của H4 khẳng định ngày 07-8-2021 không đi cùng với H, chỉ đi lấy hàng một mình.

Tại các biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất và tại phiên tòa, TT1 khai thống nhất từ giữa năm 2021 H nhận T và T1 vào ở nhà của H, thuê T, T1 vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu để bán cho người khác, giao xe mô tô biển số 70L6-2134 và xe mô tô biển số 70L7-4798 làm phương tiện vận chuyển. Ngoài ra, còn có lời khai của bà Lưu Thị Kim H1 là người giúp việc cho H khai biết sự việc H buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu và thuê T vận chuyển thuốc lá cho H. Tại phiên tòa, H thừa nhận không có mâu thuẫn gì với H1, H4, T, T1 nên cần xác định lời khai của H1, H4, T, T1 là khách quan, phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ khác.

Do đó, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Thị H cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với một số loại hàng cấm lưu thông trên thị trường, cụ thể là thuốc lá điếu nhập lậu, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện. Bị cáo bỏ trốn, không thành khẩn khai báo, không ăn năn hối cải nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội có tổ chức, là người chủ mưu cầm đầu nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm a khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

T và T1 khai vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho H nhiều lần nhưng không xác định được thời gian địa điểm, số lượng cụ thể nên không có căn cứ xác định H phạm tội nhiều lần.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai quanh co, chối tội, không thể hiện sự thành khẩn, ăn năn hối cải nhưng cha mẹ của bị cáo là ông Lê Thanh M và bà Nguyễn Thị N là những người có công với cách mạng, tham gia kháng chiến, đây là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài cũng đã đủ sức răn đe, giáo dục nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Hủy các lệnh kê biên tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đối với bị cáo trong vụ án này.

[6] Bản án sơ thẩm số 47/2022/HS-ST ngày 23-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh và Bản án hình sự phúc thẩm số 156/2022/HS-PT ngày 30-8-2022 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xét xử Nguyễn Minh THồ Văn T1; vật chứng và đối tượng liên quan khác đã được xử lý xong.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 190; Điều 38; khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

    Xử phạt bị cáo Lê Thị H 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28-3-2023.

  2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về biện pháp cưỡng chế: Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Hủy bỏ Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đối với bị cáo Lê Thị H trong vụ án này.

    Tài sản bị kê biên là: 01 thửa đất số 36, tờ bản đồ số 39, diện tích 851,2 m² toạ lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; 01 thửa đất số 66, tờ bản đồ số 21, diện tích 13.544,5 m² toạ lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; 01 thửa đất số 58, tờ bản đồ số 22, diện tích 11.413,2 m² toạ lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; 01 thửa đất số 59, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.388 m² toạ lạc tại ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Sở Tư pháp Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng PV 06;
  • - Công an huyện Châu Thành;
  • - Thi hành án HS.
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hồ Thị Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về buôn bán hàng cấm (theo điểm b khoản 3 điều 190 của bộ luật hình sự)

  • Số bản án: 96/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (theo điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H bị truy tố về tội BUôn bán hàng cấm theo khoản 3 Điều 190 của BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger